Ngày 25-10/2011, Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) họp báo công bố con tê giác bị sát hại ở vườn quốc gia Cát Tiên tháng 4 năm ngoái là cá thể tê giác cuối cùng của Việt Nam.
Sau nhiều tháng tìm kiếm của các chuyên gia nước ngoài, cùng sự hỗ trợ của chó nghiệp vụ gửi từ Mỹ sang, WWF kết luận năm 2010 đánh dấu mốc tuyệt chủng loài tê giác Java một sừng ở nước ta.
Xương con tê giác Java cuối cùng ở Cát Tiên tháng 4-2010 - Ảnh: ĐỨC TUYÊN
Đại diện WWF, rừng quốc gia Cát Tiên, Bộ NN&PTNT và Huyện ủy Cát Tiên tại buổi họp báo - Ảnh: Hương Giang
Buồn. Đau xót. Phẫn nộ. Đó là cảm xúc bao trùm cuộc họp báo. Các tình nguyện viên và nhân viên của WWF đã mặc áo phông in dòng chữ: “Tê giác Java tuyệt chủng ở Việt Nam năm 2010. Ra đi nhưng không bị quên lãng” để tưởng nhớ con tê giác cuối cùng.
Kết quả phân tích gen của 22 mẫu phân do nhóm khảo sát của WWF và vườn quốc gia Cát Tiên thu thập từ năm 2009-2010 cho thấy tất cả mẫu phân này đều thuộc về xác cá thể tê giác được tìm thấy tại vườn vào tháng 4-2010.
“Thật đau lòng khi những nỗ lực bảo tồn đã không bảo vệ được loài này” - bà Trần Minh Hiền, giám đốc WWF Việt Nam, nói.
Với câu hỏi đau đáu từ cử tọa “trách nhiệm thuộc về ai?”, Bí thư Huyện ủy Cát Tiên Huỳnh Văn Đẩu đã tạm thời từ chối trả lời trong khi bà Hiền khẳng định: "Anh Thành (tức ông Trần Văn Thành, giám đốc vườn quốc gia Cát Tiên - PV) là người bảo vệ trực tiếp nhưng riêng anh Thành quan tâm thì không thể. Đây là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Chúng ta cần có quyết tâm chính trị cao hơn trong việc bảo tồn. Ở những vùng đã được quy hoạch bảo tồn, mục tiêu bảo tồn phải cao nhất chứ không phải là kinh tế”.
Trong khi đó, người quản lý chương trình Loài ở khu vực Mekong của WWF là ông Nick Cox và giáo sư Đặng Huy Huỳnh, chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam, đều gióng hồi chuông cảnh báo về công tác bảo tồn những gì còn sót lại của VN như hổ, voi, sao la…
“Nếu tình trạng này không được cải thiện, nhiều loài nữa sẽ bị tuyệt chủng ở VN là điều không tránh khỏi. Các khu bảo tồn tại VN cần có nhiều kiểm lâm hơn, họ cần được đào tạo và giám sát tốt hơn, đồng thời chịu trách nhiệm giải trình cao hơn”, ông Nick Cox nói.
Tại cuộc họp báo, nhân viên của WWF mặc áo phông in hàng chữ: “Tê giác Java tuyệt chủng ở Việt Nam năm 2010. Ra đi nhưng không bị quên lãng” - Ảnh: Hương Giang
Ông Trần Thế Liên, vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên của Tổng cục Lâm nghiệp, cho biết tổng cục đang cùng các cơ quan chức năng soạn thảo chiến lược quản lý hệ thống khu rừng đặc dụng với diện tích 2,2 triệu ha trên toàn quốc.
Ông Liên thừa nhận hệ thống rừng đặc dụng hiện đang ít được quan tâm và nguồn tài chính đến chủ yếu từ các tổ chức quốc tế. “Trong thời gian tới, chúng ta sẽ ban hành cơ chế tài chính bền vững cho các khu rừng đặc dụng; đồng thời chuẩn hóa đội ngũ cán bộ vì không phải ở đâu cán bộ kiểm lâm cũng có đủ trình độ và năng lực”, ông Liên nói.
Bẫy dây sắt tìm thấy ở Vườn QG Cát Tiên (ảnh WWF)
Đầu lâu con tê giác Java cuối cùng của VN - Sừng đã bị săn trộm cắt (ảnh WWF)
Simon Mahood, thành viên nhóm nghiên cứu tê giác của WWF và chú chó Chevy được đưa từ Mỹ sang để truy tìm dấu vế t của tê giác (ảnh WWF)
Khai thác cá đồng tại U Minh Hạ. (Nguồn: Internet)
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau chỉ đạo Ban quản lý Vườn quốc gia U Minh Hạ kể từ nay chấm dứt tình trạng khai thác cá đồng với mọi hình thức.
Đây là một chủ trương đúng và kịp thời nhằm bảo tồn, phát triển nguồn lợi cá đồng vốn bị giảm về sản lượng, diện tích nuôi ngày càng bị thu hẹp như hiện nay.
Vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau có diện tích 8.000ha, nằm cách trung tâm thành phố Cà Mau 40km. Ngoài nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng như cây rừng, động vật hoang dã, ở đây còn có nguồn cá đồng phong phú với sản lượng mỗi năm xấp xỉ 10.000 tấn. Cá loại cá bao gồm cá lóc, cá trê, cá rô, cá bổi, cá sặc, ca dày, cá thát lát… có giá trị kinh tế cao.
Trong thời gian qua, do quản lý lỏng lẻo nên đã xảy ra tình trạng khai thác cá tràn lan tại đây. Các tư thương thậm chí chạy ôtô vào tận rừng để mua cá. Ngay cả cá non cũng bị khai thác bán nên nguồn cá giống để sinh trưởng đã giảm đi đáng kể.
Việc khai thác, mua bán cá đồng tại Vườn quốc gia U Minh Hạ còn có tác động xấu tới môi trường tự nhiên của rừng quốc gia./.
(LĐ) - Giữa thăm thẳm rừng già nguyên sinh thuộc khu vực xã Tân Hoá (huyện Minh Hoá - Quảng Bình) là những cây cổ thụ quý hiếm bị xẻ tan nát. Từ những gốc cây rơm rớm nhựa đến những gốc đã bị cưa đứt không thương tiếc hàng năm trời. Tất cả trơ ra, nhìn đến đau lòng giữa thung lũng vắng...
Một lần theo chân cửu vạn vào rừng tìm hiểu nạn chặt phá gỗ hoành hoành ở khu rừng thuộc địa bàn cực bắc Quảng Bình, PV Lao Động đã trực tiếp mục sở thị những hình ảnh xé lòng ấy!
Những thân cây rỉ máu.
Những thân cây rỉ máu, những khoảnh gỗ lim, sến... vừa được xẻ tách vuông vắn, nằm la liệt khắp mọi ngõ ngách của rừng chờ chuyển đi. Nhiều khúc gỗ to, rỗng ruột nằm vô tội vạ - những khúc gỗ "oan uổng", xẻ ra mới biết chọn nhầm cây, đành vứt lại ngổn ngang giữa rừng.
Nhiều khúc gỗ to, rỗng ruột bị vứt lại ngổn ngang giữa rừng.
Ngoạn mục nhất là cảnh tượng từng đoàn cửu vạn tầm hơn chục người quàng dây thừng qua vai và tải từng tấm gỗ lớn băng qua những sườn đá tai mèo nhọn hoắt. Dưới sức nặng của những tảng gỗ lim còn mới cáu vết xẻ, họ rầm rập "hò dô" làm náo loạn cả một góc rừng.
Từng đoàn cửu vạn rầm rập "hò dô".
Một cửu vạn vừa nhìn PV Lao Động đầy dò xét, vừa nói bằng giọng địa phương đặc sệt: "Gỗ ni mang về dưới xã để làm nhà đấy, nhiều vô kể. Nhà mô cũng làm bằng gỗ hết, không cần ximăng, cát sỏi chi!". Với tiền công 200.000đ/chuyến, mỗi ngày người đàn ông này đi được 3 chuyến, cơm nước được phục vụ ngay tại rừng. Một đoạn rừng khác, vài cửu vạn lẻ tẻ vác trên vai những khoanh gỗ bé, dài thoăn thoắt xuyên rừng mang ra bãi tập kết.
Vài cửu vạn lẻ vác những khoanh gỗ bé xuyên rừng mang ra bãi tập kết.
Ngay bìa rừng, gỗ được xếp ngay ngắn chờ xe đến vận chuyển. Cũng theo cánh cửu vạn, việc vận chuyển gỗ được hoạt động tấp nập về đêm. Không chỉ bằng đường rừng, băng qua 3 - 4 lèn (núi), gỗ còn được chuyển vào các hang động được thông từ lèn này qua lèn khác, rồi sau đó dễ dàng tuồn về xuôi.
Gỗ được xếp ngay ngắn chờ xe đến vận chuyển.
Khu vực rừng Tân Hoá là một trong những địa bàn có nhiều hệ thống hang động ngầm nhất của huyện Minh Hoá. Trong đó, vì mục tiêu tìm đường tuồn gỗ ra ngoài, nên rất nhiều hang ngầm được phát hiện và trở thành con đường chuyển gỗ vừa nhanh chóng, vừa bí mật cho lâm tặc vùng này.
Một trong những hang ngầm để tuồn gỗ ra khỏi bìa rừng.
Đây chỉ là một trong những chiếc hang ngầm được phát hiện, đi bộ 7 phút xuyên một con lèn để tuồn gỗ ra khỏi bìa rừng một cách dễ dàng.
Ngày 25/5, Phòng Cảnh sát Kinh tế (Nghệ An) kiểm tra xe khách biển Lào đã phát hiện 30 chân gấu, 7 con rùa... đang đưa từ Lào về Việt Nam.
Ngày 25/5, Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an Nghệ An nhận được nguồn tin mật báo của quần chúng nhân dân cho biết, một chiếc xe khách biển số Lào đang vận chuyển chân gấu và rùa về Việt Nam theo đường tránh Vinh.
Ngay sau khi nhận đượcc tin, Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an Nghệ An cử một tổ công tác lên đường xác minh làm rõ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi tổ công tác đang chốt chặn ở QL46 thuộc địa phận huyện Hưng Nguyên (giao giữa QL46 và đường tránh Vinh - pv) thì phát hiện xe khách mang BKS Lào UN-668 di chuyển theo hướng Nam Đàn - TP.Vinh như tin báo nên đã yêu cầu dừng xe.
Qua kiểm tra giấy tờ, lực lượng chức năng xác định tài xế điều khiển là Phan Văn Hùng (SN 1969) ở xóm 6 xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu (Nghệ An) còn chủ xe là Nguyễn Văn Tuấn (1975) ở Diễn Hồng, huyện Diễn Châu; khám sơ bộ xe phát hiện một bao tải đựng 30 chân gấu và 7 con rùa.
Số chân gấu và rùa bị phát hiện trên xe khách biển Lào
Tại cơ quan điều tra, chủ xe tên Tuấn khai nhận: Đón khách từ Viên Chăn (Lào) về Nghệ An, khi đi qua cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) đã mua 7 con rùa với giá 700.000 đồng. Còn số tay, chân gấu nói trên là của một hành khách mang lên xe. Hiện số hành khách đi trên xe đã được trả ở bến xe khách trước khi xe được đưa về Đội kiểm soát Hải quan số 2.
Được biết, cũng chính chiếc xe này vào lúc 11 giờ ngày 11/4/2010, Phòng Cảnh sát môi trường Công an Nghệ An phối hợp Đội Kiểm soát hải quan số 2 thuộc Cục Hải quan Nghệ An tiến hành kiểm tra bắt giữ 2 con gấu con, 25 chân gấu ướp lạnh với trọng lượng 50kg, 140 con rùa các loại nặng 90kg...
Hiện toàn bộ tang vật đã được bàn giao cho Hạt kiểm lâm Nghệ An. Vụ việc đang được tiếp tục điều tra mở rộng.
TP - Thú hoang và các bộ phận của chúng sẽ được bày giữa lòng sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội, từ trưa thứ ba tuần tới. Tại sao lại đặt ở nơi có giá thuê mặt bằng đắt nhất Việt Nam và thời gian trưng bày kéo dài không dưới năm năm?
Trao đổi của phóng viên Tiền Phong với anh Thomas Osborn, Điều phối viên Chương trình Tiểu vùng Mêkong Mở rộng của TRAFFIC Đông Nam Á, chi nhánh của TRAFFIC, một mạng lưới kiểm soát buôn bán động vật hoang dã toàn cầu, và còn là thành viên ban tổ chức sự kiện trưng bày có một không hai này ở Việt Nam.
Hổ, ngà voi, chân gấu, sừng tê sẽ được trưng bày tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) để nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ động vật hoang dã
Chiến dịch "Đừng mua sự phiền muộn"
Chào Thomas, trên thế giới từng có kiểu trưng bày thú hoang và các sản phẩm của chúng ở cửa khẩu hàng không như thế này chưa?
Chưa nhiều. Đầu năm, có một cuộc trưng bày sản phẩm ngà voi bị buôn bán ở sân bay quốc tế Bangkok (Thái Lan). Mới tháng vừa rồi có một cuộc ở Sân bay Vientiane (Lào) và khoảng vài năm trước ở Atlanta (Mỹ).
Mấy nước đấy là vài trong số những điểm trung chuyển thú hoang khét tiếng. Nhưng bày hàng dễ để thực khách lắm tiền thêm thèm, buôn bán thú hoang thêm nhộn nhịp?
Nếu chỉ là sản vật thôi thì dễ bị hiểu như thế thật đấy. Sẽ có các tủ kính đặt tại các phòng chờ trước khi ra máy bay, giúp hành khách có đủ thì giờ thu thập thông tin về buôn bán thú hoang trong khu vực châu Á và xem mô hình các sản phẩm thú hoang đang bị buôn bán bất hợp pháp phổ biến nhất ở Việt Nam.
Nhưng bên cạnh đó còn có thông điệp rõ ràng, kêu gọi trước hết những người có tiền giảm rồi đi đến ngừng tiêu thụ, buôn bán thú hoang và các sản phẩm của chúng.
Chúng tôi đặt tên chiến dịch là "Đừng mua sự phiền muộn" với tổng cộng 15 áp phích về sáu loài thú hoang đang có nguy cơ tuyệt chủng được buôn bán nhiều nhất ở Việt Nam, gồm hổ, gấu châu Á, voi, tê giác, rùa biển, và tê tê - một loài động vật có vảy chuyên ăn kiến.
Áp phích cảnh báo các loài đó được luật pháp bảo vệ và buôn bán các loài đó có thể bị phạt hoặc truy tố.
Thông điệp thể hiện ý chí của ban tổ chức có thấm vào đầu khách xem không, làm sao biết được? Nhỡ đâu cái tay gấu đen mượt thế này, cục sừng tê giác ấn tượng thế kia lại là thông điệp hình ảnh lấn lướt thông điệp ngôn từ thì sao? Chúng kích thích tôi mong một ngày đẹp giời nào đó dùng thử. Liệu ban tổ chức có biết tư duy của tôi bị các bộ phận thú hoang ấy tác động không?
Có tình huống đó thì coi như đấy là điểm xuất phát của nhận thức. Từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, người xem còn bị tác động bởi nhiều yếu tố định vị lại nhận thức ban đầu nữa chứ. Khó có thể đi đến hành động cảm tính được.
Hơn nữa các biển quảng cáo sử dụng người mẫu với tay đeo còng số 8 sẽ có ấn tượng mạnh nếu sự ham muốn lấn lướt ý trí.
Có người bị ám ảnh mãi vụ 80 con gấu không được gắn chip ở TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đến bây giờ vẫn xử lý chưa xong. Ai bảo nhận thức của những người có trách nhiệm xử lý vụ này không phát triển đến cung bậc lý tính như anh nói. Thế mà tại sao, cứ ở xa đàn gấu, họ hô thông điệp rất to, như thể đàn gấu bất hợp pháp kia chuẩn bị được tịch thu đến nơi nhưng, hễ đến gần là y như rằng, chúng lại yên vị, lại không bị tịch thu. Chủ đàn gấu rung đùi ba năm nay rồi, bất chấp vài chục trát nọ trát kia, đoàn đi đoàn về.
Phải lạc quan thôi. Tôi tin Chính phủ Việt Nam sẽ sớm giải quyết dứt điểm. Tại lễ khai trương trưa thứ ba tới, 11-5, một quan chức của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, thành viên trong ban tổ chức cuộc triển lãm dự định kéo dài năm năm này, sẽ nhấn mạnh mục tiêu cuộc triển lãm.
Nhiệm vụ của TRAFFIC như trong tấm danh thiếp của anh ghi đây, là đảm bảo buôn bán động thực vật hoang dã không đe dọa bảo tồn thiên nhiên. Có nghĩa TRAFFIC vẫn không phản đối buôn bán các loài hoang dã, vẫn chấp nhận hiện tượng ấy. Và quan điểm này cũng được lồng ghép tại cuộc trưng bày lần đầu tiên ở Việt Nam?
Phải thực tế chứ. Nhu cầu buôn bán động thực vật hoang dã là có thực. Tác dụng của chúng đối với cuộc sống con người, trên nhiều khía cạnh, là có thực. Con người khai thác tài nguyên thiên nhiên để tồn tại và phát triển.
Thomas Osborn (phải) và một nhà báo Việt Nam với các sản phẩm chân gấu, sừng tê giác, và ngà voi sẽ trưng bày tại sân bay Nội Bài từ thứ ba tuần tới - Ảnh: Trần Thu Hường
Vấn đề là khai thác có chừng mực, khai thác để đảm bảo thiên nhiên có thể tự tái tạo ngay được, không gây suy thoái hoặc làm biến mất loài, không làm mất đa dạng sinh học, không hủy hoại chức năng của các hệ sinh thái, nền tảng cơ bản để kinh tế và xã hội phát triển bền vững.
TRAFFIC ủng hộ bảo tồn và phát triển, có nghĩa là việc khai thác, sử dụng, buôn bán các loài hoang dã vì mục tiêu phát triển phải được kiểm soát.
Việt Nam - Điểm nóng
Thế có nghĩa TRAFFIC ủng hộ việc tiếp tục buôn bán ngà voi, sừng tê giác và, vì thế, hai sản phẩm này cũng được trưng tại sân bay Nội Bài?
Trong danh mục các sản phẩm thú hoang được phép buôn bán của CITES (Công ước Quốc tế về Buôn bán các Động -Thực vật Hoang dã Nguy cấp) có cả ngà voi và sừng tê giác. Ở một số nước châu Phi, ngà voi và sừng tê giác được phép khai thác ở mức độ nhất định.
Nếu vậy TRAFFIC tiến hành các cuộc điều tra toàn cầu, trong đó có nhắm đến Việt Nam, việc buôn bán thú hoang nói chung và ngà voi, sừng tê giác nói riêng để làm gì?
Như tôi nói ở trên, vấn đề là kiểm soát nạn buôn bán bất hợp pháp, kiểm soát nạn khai thác thiếu bền vững khiến các loài bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Nếu kiểm soát và ngăn chặn được các hoạt động bất hợp pháp, nguy cơ tuyệt chủng các loài sẽ được cải thiện hẳn.
Tôi lấy ví dụ về tê giác. Tại một số nước châu Phi và châu Á, nơi có ý chí chính trị và các chương trình bảo tồn hiệu quả, quần thể tê giác đều có dấu hiệu tăng.
Ở Việt Nam, TRAFFIC điều tra cái gì?
Chúng tôi phối hợp với toàn vùng Đông Nam Á, châu Á, và toàn cầu, chứ không làm riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, với ngà voi và sừng tê giác, Việt Nam là một trong những trọng điểm điều tra, một trong những điểm nóng về trung chuyển và tiêu thụ.
Chúng tôi muốn tìm hiểu xem nhu cầu tiêu thụ ở Việt Nam đối với ngà voi và sừng tê giác là như thế nào. Tại Việt Nam, chúng được tiêu thụ là chủ yếu hay chỉ là điểm trung chuyển.
Các anh điều tra chưa và kết quả ra sao?
Tất cả mới là bước đầu và cũng bước đầu nhận định, với ngà voi, Việt Nam chủ yếu là điểm trung chuyển. Chẳng hạn, vụ bắt hai tấn ngà voi cách đây mấy ngày ở cảng Hải Phòng, được biết là trên một chiếc tàu từ Kenya về và định chuyển sang Trung Quốc. Còn với sừng tê giác, có cảm giác Việt Nam là một trong những thị trường tiêu thụ lớn.
Sừng tê giác bị tịch thu - Ảnh: Đặng Tất Thế
Báo cáo cuối năm ngoái của TRAFFIC và IUCN (Liên minh Bảo tồn Quốc tế) cho rằng nạn săn bắt tê giác ở châu Á và châu Phi có vẻ tăng vọt?
Buôn bán chủ yếu đáp ứng nhu cầu sừng tê giác ở châu Á. Thị trường châu Á làm gia tăng nạn săn bắn trộm tê giác. Bọn trộm dùng cả thuốc mê thú y, thuốc độc, cung nỏ, và cả vũ khí cỡ lớn để giết tê giác.
Từ năm 2006, có tới 95% vụ săn bắn tê giác ở châu Phi xảy ra tại Zimbabwe và Nam Phi. Nghiêm trọng nhất là tại Zimbabwe, trong khi số lương quần thể tê giác ngày càng giảm, chỉ 3% số vụ săn bắt tê giác bất hợp pháp ở nước này được xử lý hình sự.
Tại cuộc họp lần thứ 15 của các bên tham gia CITES tổ chức hồi tháng ba vừa qua, tình trạng quần thể tê giác ở Việt Nam cùng hai nước châu Á khác là Malaysia và Indonesia cũng được cảnh báo là đang bị đe dọa.
Đặc biệt, các chuyên gia bảo tồn quốc tế đều chia sẻ quan điểm cho rằng hầu hết sừng tê giác từ Nam Phi được đưa đến các thị trường Đông Nam Á và Đông Á chủ yếu để làm thuốc. Việt Nam và Trung Quốc đứng hàng đầu danh mục này.
Báo cáo đề cập đến Việt Nam như là một trong những trường hợp cần quan tâm đặc biệt, với việc lưu ý rằng một số công dân Việt Nam làm việc ở Nam Phi, gần đây, đã được xác định trong các cuộc điều tra về tội phạm liên quan đến tê giác.
Tại sao TRAFFIC lại tổ chức trưng bày ở sân bay quốc tế Nội Bài vốn rất đắt đỏ về thuê mặt bằng mà không làm chỗ khác?
Sân bay thường là các điểm vận chuyển bất hợp pháp thú hoang trên toàn cầu và là địa điểm lý tưởng để nâng cao nhận thức cho công chúng, nhất là công chúng có mức thu nhập trung bình trở lên, nhóm được cho là khách hàng chủ yếu tiêu thụ các sản phẩm thú hoang.
Cũng như các nước Đông Nam Á khác, mấy năm gần đây, Việt Nam trở thành nơi cung cấp, đồng thời là thị trường tiêu thụ các sản phẩm thú hoang bất hợp pháp, với các mạng lưới trải rộng toàn cầu.
Nội Bài là sân bay quốc tế lớn nhất miền Bắc, phục vụ gần bốn triệu hành khách mỗi năm và được chọn làm địa điểm chính của cuộc chiến chống buôn bán thú hoang bất hợp pháp.
Chính vì thế, đắt mấy chúng tôi cũng cố gắng làm bằng được. Và việc thương thảo thành công địa điểm tổ chức cho thấy quyết tâm to lớn của Chính phủ Việt Nam trong sự nghiệp này.
Ngoài TRAFFIC với tư cách là cố vấn kỹ thuật của triển lãm, còn có Bộ Giao thông Vận tải, Tổng Công ty Hàng không Miền Bắc, Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), Cảnh sát Môi trường. Tham gia còn có Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) và, đặc biệt là, cả Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có như thế, chỉ với khoản tài trợ 35.000 USD của DANIDA và khoảng 8.000 USD của Intrepid Travel, chúng tôi mới thực hiện được Chiến dịch Truyền thông về Buôn bán Thú hoang (Wildlife Trade Campaign) kéo dài năm năm này.
Được biết, một áp phích quảng cáo của hãng Golden Eye kích thước 3x4m đặt trong sảnh sân bay Nội Bài phải trả 30.000 USD/năm rồi.
Ban tổ chức có định tập trung "khai mở" nhóm hành khách nào? Hay cho tất cả các đối tượng, giàu nghèo?
Để bày sản phẩm của sáu loài thú hoang, có một chỗ duy nhất của phòng chờ là chân cầu thang cuốn đi lên phòng giải khát ở tầng trên. Nơi đấy, chủ yếu phục vụ khách có tiền. Chúng tôi định tập trung trưng bày chỗ đó các sản phẩm của hổ, tê giác, và gấu. Sau đó là các sản phẩm ngà voi, tê tê, và móng vuốt.
Chúng tôi hy vọng nâng cao nhận thức cho hành khách cả trong nước và quốc tế về các văn bản luật pháp bảo vệ động vật hoang dã của Việt Nam. Đây sẽ là nội dung quan trọng giúp ngăn chặn hoạt động buôn bán bất hợp pháp và không bền vững, khiến nhiều loài ở Việt Nam và Đông Nam Á đứng bên bờ tuyệt chủng.
(Lúc tác giả viết bút ký này ấp Mũi còn thuộc xã Viên An)
Đọc ký của Nguyễn Tuân viết về Cà Mau, tôi nhớ có một nhân vật, tên là cô Lê, quê Nam Bộ, công tác ở Liên đoàn du lịch. Theo cô Lê, trong những yếu tố bồi dưỡng nên lòng yêu nước, thì "địa lý là quan trọng hơn lịch sử". Cô đã tranh luận rất sôi nổi với tác giả để bênh vực ý kiến ấy của cô. Lúc đầu, tôi không chú ý mấy luận điểm của cô Lê; tôi cho rằng khi nói về lòng yêu nước, thực ra cô Lê đã bị chi phối bởi tâm lý nghề nghiệp, nghĩa là tâm lý những người khách của Liên đoàn du lịch. Mãi đến vừa rồi, về thăm Mũi Cà Mau, lênh đênh trên những kinh rạch của miệt rừng đước, sực nhớ lại nhân vật ấy của Nguyễn Tuân, tôi mới nghĩ ra tại sao cái yếu tố địa lý nó lại có sức gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí của cô Lê đến như thế. Vâng, cũng vẫn là những dòng sông và những cửa biển, những cánh rừng và những đêm sao, nhưng Cà Mau không giống một miền nào trên khắp đất nước. Tôi đã từng nghe nói, đã đọc về Cà Mau; được đặt chân trên cái mũi nhọn chót vót mà ngày còn bé đi học, mỗi khi vẽ bản đồ Tổ quốc, tôi vẫn lo lắng tự hỏi, không biết khi đứng ở nơi đó, liệu mình có bị rơi xuống biển hay không. Và giống những người dân chài làm nghề sạc sò trên Đất Mũi, tôi cúi xuống vốc từng nắm bùn sinh dưới chân ngọn triều đêm qua, nghe chất phù sa ướt nhão ấy rung động, bồi hồi trong tay như một mẩu thịt da mới mọc. Thế mà khi xa rồi, về ngồi nhớ lại, tôi vẫn chưa hết xúc động về một cõi đất trời quá đỗi lạ lùng ở mũi đất cực Nam của Tổ quốc.
"Cái yếu tố địa lý" trong câu chuyện của cô Lê cứ quanh quẩn trong đầu óc của tôi hoài; những sự kiện rải rác nhặt được đây đó dọc đường của một chuyến đi mang tính chất hành hương của tôi chỉ càng gợi thêm nỗi khao khát muốn hiểu biết về một vùng đất nước đúng nghĩa là giàu và đẹp và trước sau đó đối với tôi, vẫn đầy tính chất bí ẩn của những khu rừng "mới từ biển nhú lên" theo cách nói của người dân vùng Mũi. Tôi đành gác bài ghi chép đã dự định về Cà Mau, dành thêm một ít thời gian vào thư viện ở Huế mượn đọc một số sách vở cũ về rừng sác. May được gặp cụ Nguyễn, một kỹ sư thủy lâm rất am hiểu loại rừng ngập ở Cà Mau. Cụ Nguyễn đã bổ sung cho chuyến đi thực tế của tôi nhiều hiểu biết thật kỳ thú. Nhờ đó, tôi đã có thể hiểu thiên nhiên miền bán đảo cực Nam một cách cụ thể hơn - dù còn lâu tôi mới có thể hiểu nó một cách tường tận và càng thấy yêu quý mảnh đất ấy sâu sắc hơn về cái sức bồi đắp vô tận của nó.
Mũi Cà Mau.Ảnh: THANH QUANG
Từ Sài Gòn đi xe hơi theo Quốc lộ 4 về đến thị xã Cà Mau thì hết đường bộ. Từ đấy xuống đò máy ở chợ Cà Mau theo một con sông rộng thẳng tắp và dài ngun ngút, rẽ ngoằn ngoèo ra sông Năm Căn, vượt tất cả khoảng một trăm cây số đường sông thì đến vàm Ông Trang, nơi đóng trụ sở Ủy ban nhân dân xã Viên An là xã tột cùng phía Nam, đối cực với xã Lũng Cú ở phía Bắc Tổ quốc trên hai đầu kinh tuyến 105, mà anh Nguyễn Tuân đã có lần nhắc tới. Mũi Cà Mau nằm trong xã Viên An, còn cách Ông Trang năm chục cây số đường thủy, qua một hệ thống sông ngòi, kinh rạch chằng chịt không thể nào ghi chép hết tên, có lẽ nhiều bằng đường sá ở một thành phố lớn cỡ TP Hồ Chí Minh.
Về Cà Mau, lần đầu tiên tôi được sống cái cảm giác sung mãn rất lạ của đất phù sa. Tôi thấy sức vóc của mình như không dừng lại ở cái mức cố định của tuổi đời, mà hình như tôi vẫn tiếp tục lớn lên như một gã con trai bước vào tuổi trưởng thành. Đấy rõ ràng là cảm giác hữu cơ do đất đai mang lại, là sự hóa thân của phù sa vào giữa tâm hồn tôi khi đứng trên Đất Mũi. Đúng thế, có lẽ trên thế giới cũng ít có một đất nước nào được món quà tặng kỳ diệu của biển cả như đất nước ta với mũi Cà Mau; nằm trần mình dưới chân sóng mà vẫn được bồi đắp không ngừng, diện tích cứ thế mở rộng thêm mãi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, mỗi năm lấn ra biển khoảng chừng bảy chục đến một trăm mét.
Nói đến quá trình bồi đắp của mũi Cà Mau, người ta thường nghĩ đến sông Cửu Long. Điều ấy đúng. Nhưng còn phải kể đến công lao của một kẻ lặn lội tháng năm ở ngoài biển khơi, mà trước nay ít người để ý đến, ngoài các nhà địa lý học. Đó là câu chuyện về một dòng hải lưu. Chính là dòng hải lưu Bắc - Nam nổi tiếng của vùng Nam Thái Bình Dương ấy. Phát xuất từ ngoài khơi phía Nam lục địa châu Á, dòng hải lưu này tiến dần vào đất liền, áp sát vào duyên hải Việt Nam đúng vào vùng bờ biển Bình - Trị - Thiên. Từ đó nó ôm sát cái viền cung của bờ biển Việt Nam để đi vào phía Nam. Một nhà hải dương học người Pháp, ông Sơ-vây (Chevey) đã phát hiện ra dấu vết của dòng hải lưu ấy in trên bờ biển Việt Nam: Nhìn vào bản đồ, từ chỗ tiếp cận của dòng hải lưu với vùng biển Thừa Thiên trở ra, những chỗ lồi lõm răng cưa của bờ biển đều hướng mũi nhọn về hướng Bắc; trở vào thì các mũi đất ấy lại tà theo hướng Nam. Chính dòng hải lưu Bắc - Nam này đã đón hết phù sa sông Cửu Long chở về đến cực Nam và vì đụng phải đảo Hòn Khoai nên nó tạt vòng lại, tắp hết lên Bãi Bùn là nơi có thềm lục địa cao hơn những vùng xung quanh. Dòng hải lưu Bắc - Nam và sông Cửu Long là hai cánh tay vĩ đại của tự nhiên đã đón bắt những hạt phù sa vạn dặm mà bồi đắp nên mũi Cà Mau. Còn có thể lưu ý thêm đến những nguyên nhân địa lý, thủy văn khác, thí dụ như sự giao thoa giữa hai chế độ khác nhau của thủy triều ở biển Đông và vịnh Xiêm La; nhưng cái cơ bản là như vậy.
Do hội đủ mọi điều kiện thuận lợi như thế, Cà Mau trở thành một vùng đất lý tưởng cho sự phát triển của loại rừng sác. Thực ra, rừng sác không phải chỉ có riêng ở Việt Nam, mà chung ở các khu vực lục địa thuộc vĩ tuyến 28, cũng như những vùng có những dòng sông lớn với mực thủy triều cao, như sông A-ma-dôn-na ở Bra-xin, sông Hằng ở Ấn Độ, sông La-ruy ở Philippines, cả sông Hồng và sông Cửu Long ở Việt Nam. Nhưng theo các nhà chuyên môn, thì ngoại trừ vùng A-ma-dôn-na, rừng sác Cà Mau có tầm quan trọng vượt xa các khu vực khác trên thế giới.
Cùng với phù sa của những dòng sông, cát từ đáy biển bị hắt lên trong trò chơi tháng năm của sóng bể đã dần bồi nên những giồng đất. Những giồng đất này càng cao lên không ngừng bởi các lớp vỏ cây mục và lá khô trong rừng; giữa những giồng đất ấy là những đầm trũng đọng đầy nước mưa. Lịch sử tự nhiên của rừng sác bắt đầu trên những giồng đất phù sa còn ướt đẫm nước mặn ấy với sự xuất hiện của cây mắm. Từ năm sáu năm trở đi, có những thế hệ của kiều dân thứ hai của rừng sác trôi dạt theo sóng triều đỗ lại trên nền đất vừa đủ cứng mà họ mắm đã củng cố được. Đó là các loại đước, vẹt tách và dà. Đước mọc trên những vùng đất bùn rộng lớn, vẹt tách trên đất khô cứng hơn, còn dà thì mọc trên những đầm phá cũ. Khoảng năm thứ hai mươi trở đi, họ hàng nhà đước sinh sôi nảy nở đông đúc, và nhờ có bộ rễ lợi hại đứng choãi ra xung quanh giống như những chiếc cần cẩu vững chãi trên đất phù sa trẻ, đước quay lại tiêu diệt dần họ mắm và chiếm lĩnh rừng sác. Nhưng chính bản thân cây đước cũng chỉ tồn tại trên những vùng đất ngập có nước mặn luân lưu chầm chậm. Vì thế, khi đất đã cao, rắn lại, nước cũng ngọt dần thì lịch sử rừng đước cũng kết thúc, nhường chỗ cho rừng tràm (tức là rừng U Minh nổi tiếng ở Nam Bộ). Từ đó giữa lòng rừng tràm vẫn còn tiếp tục diễn ra cuộc cạnh tranh sinh tồn giữa các loài thực vật, thí dụ giữa tràm và choại; nhưng đó là một quá trình khác, thuộc lịch sử hậu kỳ của rừng sác.
Đất Cà Mau, tuy nước ngập quanh năm, nhưng rất hà tiện nước đối với cây cối. Do cấu tạo địa chất, nó chỉ chịu chi cho cây một lượng nước rất nhỏ, còn bao nhiêu thì giữ lại hết. Dưới mắt của thực vật sống trên mặt nước bao la của rừng sác, đất Cà Mau thực chất vẫn là đất khô, gọi là "khô sinh lý". Nhưng những dân cư của rừng sác đã có cách riêng để sống còn trên mảnh "đất khô" ấy; ấy là cấu trúc của lá cây. Lá của tất cả các loại cây rừng sác đều dày với những mô trữ đầy nước và lớp da ngoài được tráng bằng một lớp qui-tin láng bóng, có khả năng phản chiếu tia sáng mặt trời, hạn chế bớt sức nóng mà cây phải chịu đựng. Điều này, giúp tôi tự giải thích cái ấn tượng lạ lùng về vẻ đẹp riêng của rừng Cà Mau khi con thuyền vừa vượt khỏi vàm Ông Trang để bắt đầu trôi vào giữa cái miên man xanh biếc của rừng đước. Tôi chưa bao giờ hình dung được một khu rừng lại có thể sáng đến như thế: để ý đến tư thế từng chiếc lá, thấy nó thảnh thơi choãi lên trong không, phơi ra giữa ánh sáng của mặt trời nhiệt đới, những chùm tia nắng nhấp nháy xanh tím trên mỗi ngọn lá và toàn bộ khu rừng cứ sáng trưng như sau một cơn mưa.
Tuy rằng ít có loài cây có thể sinh sôi được trong bùn, mặn, vừa chịu đựng nổi những cơn ngập lụt có định kỳ của biển cả, nhưng rừng Cà Mau vẫn rất phong phú về loài thực vật. Theo tài liệu cũ thời Pháp, toàn bộ rừng ngập (nghĩa là kể cả khu vực rừng U Minh) có tất cả mười lăm họ thực vật, gồm mười sáu giống và ba chục loại cây rừng thuộc loại quý. Những họ thực vật quan trọng nhất của rừng sác là họ đước (gồm đước, đưng, vẹt dù, vẹt tách, vẹt đen, vẹt thăng, dà vôi, dà quánh), họ mắm (mắm đen, mắm trắng, mắm ổi, mắm lưỡi đồng), họ bần (bần đắng, bần ổi, bần chua), họ dừa nước (gồm dừa nước và chà là). Ngoài ra còn có các loại sú, cóc, giá, tra v.v...
Mắm, tên khoa học là Avicennia, là họ cây tiên phong của rừng sác, đến cư ngụ sớm nhất trên những giồng đất vừa mới được bồi đắp. Chính vì thế lịch sử cần ghi nhớ công lao của cây mắm như những tiền bối của con người trong quá trình mở đất về phương Nam. Cây mắm già nhất có thể cao đến hai mươi mét. Rễ mắm phát triển nhiều dạng tùy theo chỗ đất, có lúc mọc thẳng, lúc bò ra thành chùm rậm rạp, có nơi như ở bãi bùn, rễ mắm lại tua tủa đâm thẳng lên không, mặt đất trông như một bãi chông dày đặc. Dạng rễ này gọi là rễ phổi (phế căn), nhờ đó cây mắm có thể thở được trong vùng đất còn thường xuyên bị ngập nước. Hằng năm vào tháng bảy, mắm nở hoa vàng, khoảng một tháng trở đi thì kết trái. Trái mắm từng chùm cỡ lóng tay, ở trong ruột có cái lõm màu xanh giống hình quả tim, có thể ăn được. Những năm khó khăn, bộ đội, cán bộ vùng mũi đã phải đi hái từng thúng trái mắm, bóc vỏ, nhặt ra từng cái lõm nhỏ bằng hột bí, đem luộc đi luộc lại hàng chục nước cho hết đắng, để ăn thay cơm. Nhờ trời cũng đỡ lòng, bám trụ đánh giặc được. Gỗ mắm màu trắng xám, dùng làm gỗ xài việc trong nhà, cũng còn dùng làm ván ép. Củi mắm dùng để đốt lò gạch; hơi gỗ mắm phả vào đất sét nung, đem lại cho gạch ngói một màu đỏ tươi rất đẹp, đắt giá trên thị trường. Điều cuối cùng này không thể quên khi nói về cây mắm: đó là loại cây kiên cường nhất của rừng sác miền Nam, có thể đương đầu nổi với cuộc chiến tranh hóa học của giặc Mỹ. Sau những trận mưa khai quang của đế quốc Mỹ, mọi loại cây rừng khác đều bị hủy diệt, chỉ riêng rừng mắm thì rụng lá để rồi nảy mầm và xanh tươi trở lại.
Tuy nhiên, cây đước mới là linh hồn của rừng Cà Mau, do tuổi nó sống lâu với rừng già, do sự giàu có mà nó mang lại cho con người, và nhất là do sự gắn bó sâu xa của nó với đời sống và tâm hồn của người dân Đất Mũi. Ra khỏi vàm Ông Trang chừng hơn một tiếng đồng hồ để xuôi về Rạch Tàu, vượt qua những bãi vẹt giống như hàng rào ô-rô được cắt xén thẳng tắp chạy dọc hàng chục dặm sông thuộc khu vực Cái Xép, người ta bắt đầu gặp những khu rừng đước vẫn còn lại sau chiến tranh. Tôi không ngờ rừng biển lại hùng vĩ đến như thế. Rừng đại ngàn hẳn hoi với toàn bộ những cây đước cao từ hai mươi đến ba mươi mét. Cây đước (Rhizophora Apyculata) có vỏ màu xám nhạt, lỗ đổ từng đám rêu, gợi dáng da cá sấu. Gỗ đước lúc còn mới màu sáng, lâu năm thì ửng lên màu nâu sẫm, bóng láng rất đẹp. Cây đước hai mươi tuổi trở lên, đem cưa ván rộng đến năm tấc mặt, dùng để lát sàn nhà. Gỗ đước đóng vai trò chủ lực trong kiến trúc một ngôi nhà ở làng biển vùng Mũi: sàn nhà, đố, cột kèo, bậc thềm, rượng phơi lưới, cả đường đáy và những chiếc cầu khỉ để đi lại trong ấp... Có thể nói, ở Đất Mũi Cà Mau, cây đước đã thay vào vị trí cây tre của nông thôn Việt Nam, trong sinh hoạt cũng như trong cuộc sống văn hóa, tình cảm của con người. Cây đước được gọi đến để làm chứng cho lời thề vĩnh viễn, cho những gì bền vững sắt son khi con người đối diện với Tổ quốc, với đạo lý, với tình yêu: "Bao giờ hết đước Năm Căn...".
Tất cả những cây họ đước đều có một giá trị kinh tế rất lớn. Vỏ đước và vỏ dà rất giàu chất ta-nanh (trên 24%), dùng để nhuộm quần áo và nhuộm lưới. Trước chiến tranh, ở Chợ Lớn có những hãng sản xuất chất ta-nanh khai thác từ các rừng sác ở Nam Bộ, tổng cộng sản lượng hằng năm lên tới 9.000 tấn.
Đước và vẹt tách dùng để sản xuất than, nguồn nhiên liệu chính của đồng bằng Nam Bộ. Đặc biệt là than đước, có nhiệt năng rất lớn, mỗi ki-lô-gam than đước cho đến 6.660 ca-lo, gấp đến hai, ba lần loại than thường, rất quý trên thị trường trong và ngoài nước. Một cây đước bình thường khoảng hai mươi tuổi, đem hầm cho được 300 kí-lô-gam than. Rừng Cà Mau là vàng thực sự. Nó còn giúp ích cho con người trong bao nhiêu cái lặt vặt khác rất cần thiết trong đời sống; gỗ được dùng để làm răng cối xay, cóc dùng để nhuộm lưới, vẹt dù dùng để ghép ván bánh lái thuyền, ngâm trong hóa chất thì dùng làm cột trụ điện. Lá dừa nước dùng để lợp nhà và làm phên; nhà vùng Cà Mau mát rượi cả bốn mùa vì lá dừa nước có đặc tính cách nhiệt rất tốt. Trái dừa nước làm thức ăn cho lợn. Còn con đuông chà là là một món ăn nổi tiếng của vùng Cà Mau mà người dân thành phố chỉ có thể tìm thấy trong những khách sạn đắt tiền ở Chợ Lớn. Bọn Tây thuộc địa trước kia, sống lâu năm ở Nam Bộ, rất sành ăn món đuông chà là, gọi nó là con "nhộng tê giác" (larves du rhinocéros).
Sông và biển Cà Mau đầy ắp những tôm, cá. Tôm khô, cá mặn ở đây có giá trị cả trong nước lẫn quốc tế. Cá đủ các loại: đường, gộc, vượt, chẽm, sú, bống mú, ngát, đuối, kèo, nhám, khoai, chét, đối, đao, chốt... Người Đất Mũi có nghề đánh cá mập bằng cây xà-búp. Còn cá dứa thì dùng lao để phóng. Cá dứa rất ham ăn trái mắm. Khoảng tháng 8, tháng 9 mùa mắm rụng, cũng là mùa lao cá dứa. Con cá dứa mình trắng, đuôi vàng, trung bình nặng khoảng ba kí-lô-gam, có khi nặng đến bảy, tám kí-lô-gam, thịt rất ngon, là một nguồn hải sản quý của vùng rừng mắm.
Trước ngày giải phóng ở Mũi này, tàu Thái Lan, Nhật Bản, Singapore thường tới bắt cá. Dân mình thì mới ở rừng về, dụng cụ mười mấy năm chiến tranh đã hư hao, nên sản xuất lẻ tẻ; tính ra mới bắt được một phần mười của biển. Có đồ nghề thì mỗi hộ hằng năm ở đây có khả năng làm mười tấn cá dễ ợt. Chú Năm Lùng trong UBND xã Viên An nói với tôi như vậy. Chú nói thêm:
- Dân ở đây xài cá bự thôi. Còn cá nhỏ, nhiều loại, không biết dùng làm gì, nên làm phân.
Nằm lại chờ đò ở Ông Trang, tôi có thì giờ tò mò ngồi nhìn lũ cá bống sao kéo nhau ra phơi nắng đầy trên mặt bùn. Chúng di chuyển chậm chạp bằng hai vi trước. Ngó vậy nhưng không tài nào chụp bắt được chúng. Nghe động, chúng phóng nhanh tới trước bằng cách giương cao cả hàng vi dọc sống lưng, trông giống con kỳ nhông; con bé vi ngắn, màu đỏ rất đẹp, trông như cánh bướm. Khi về tới hang thì chúng dừng lại, quay đôi rồi từ từ thụt lùi vào hang, giống như ô-tô vô ga-ra. Loại cá sao này làm hang sống ngay bên hè nhà ở vàm sông, nhiều hơn cóc nhái, thịt thơm ngon, nhưng ít ai để ý tới chúng, lý do là "bắt mất công". Một loại cá khác rất năng gặp ở đây, là cá thòi lòi, loại cá này vừa sống trên cạn, vừa dưới nước, thường từng cặp rượt đuổi nhau trên khắp các nẻo sông, nhiều khi trườn lên tận những chùm rễ đước cao khỏi mặt nước.
Sau Tết, biển Cà Mau vào mùa tôm; làng biển suốt ngày vang động cái âm hưởng sập sã của dân chài đập vỏ tôm để vô bao. La cà năm bảy hôm ở Rạch Tàu, theo những chuyến thuyền đổ đáy về mỗi buổi sáng, tôi đã biết mặt, biết tên hầu hết cái đám thủy tộc đông đúc này vốn là nguồn lợi lớn nhất của Đất Mũi: tôm ú, tôm gân, tôm bông lau, tôm sú là loại tôm bự. Tôm mặt quỵt tức là con tép bạc. Tôm nghệ, nghệ gân màu vàng, còn nghệ vợt là con khuyết. Tôm tít, có cặp càng rất bén. Tôm gai, mọc gai cùng mình. Cái anh tôm - đầu - không này, chỉ thấy đầu và mắt mình nhỏ tí xíu. Tôm chầu trời, lội ngước đầu khỏi mặt nước. Tôm càng trứng, bao giờ cũng ôm một bụng trứng. Tôm vác giáo, mỏ nhọn hoắt. Tôm vú nàng, màu đỏ hồng. Vú nàng sắt, vỏ đỏ, dày, sọc đen v.v...
Ở Mũi còn một loại hến biển, gọi là con điệp. Điệp già thường có một hoặc hai hạt ngọc ở trong, nhỏ bằng hạt tấm, màu trắng ngà. Người ta đi bắt điệp về làm món nhậu, gặp ngọc thì để dồn lại, từng đợt có người ở Chợ Lớn về mua, nói là để làm thuốc. Mua giá đắt, tính từng chỉ, từng lạng như vàng, giá cũng bằng một phần ba giá vàng. Đó là nói điệp bãi Rạch Tàu. Còn điệp Hòn thì ngọc lớn bằng hạt tiêu trở lên, chủ kim hoàn Chợ Lớn mua về nhận cà rá. Hòn Củ Tron, Củ Tru và những đảo nhỏ xung quanh có rất nhiều loại điệp này. Nhưng dân ở đây không coi đó là nghề sinh sống, chỉ là để kiếm thêm chút đỉnh xài chơi vậy thôi.
Bãi bùn Cà Mau còn có một giống hải sản quý khác là sò huyết. Người sạc sò, ngồi trên một tấm ván, dùng dầm và chân đẩy nhẹ cho tấm ván trượt đi trên mặt bùn, cứ phát hiện một cái lỗ tròn trên bãi là cho tay vào, nhặt ngay được một con sò, ném thả vào chiếc thùng gỗ phía sau. Bằng cách đơn giản ấy, người lướt ván có thể di chuyển như bay trên bãi bùn không kém xe đạp đi trên đất.
Với phương tiện thô sơ nhưng với tốc độ đáng ngạc nhiên ấy, người sạc sò trên bãi bùn đã đi lại có mặt khắp nơi trên mặt đất mới thành hình này của Tổ quốc; mặt đất còn bập bềnh giữa hai trạng thái đặc và lỏng, trên đó những con đường quả nhiên chưa rõ đâu là thực là hư, chỉ mới hiện ra như một niềm hy vọng của con người, đúng như trong câu nói cảm động của Lỗ Tấn.
Cà Mau!... Nơi cuối đất cùng trời, nơi đó "thuyền chèo trong rừng, cá sống trên cây và những dòng sông bắt nguồn từ biển...". Nơi đó, đất nước rừng vàng biển bạc... Nơi đó, cũng chính là quê hương của thầy giáo Phan Ngọc Hiển, người đã lãnh đạo cướp Hòn Khoai thuở Nam Kỳ khởi nghĩa, quê hương của Bông Văn Dĩa, người anh hùng đã dám cầm tấm bản đồ Việt Nam xé từ một cuốn giáo khoa cấp một, dong buồm ra tận Hải Phòng để dò đường đưa vũ khí vào miền Nam, mở ra con đường Hồ Chí Minh trên mặt biển... Nơi đó, quê hương của hàng vạn con người như ông Hai Pháp, đã bới từng lon nước mưa nuôi anh Ba*, thuở ấy đang bám miền Nam, bộ bà ba đen bê bết đất lầy rừng đước. Nơi đó, có những xã toàn dân đã kéo nhau vô rừng đước, cất nước biển thành nước ngọt để uống, đánh Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng. Trời ơi, nơi đó!...
Đột nhập hang cọp lớn nhất Đông Nam Á Loạt phóng sự điều tra về nạn buôn bán động vật hoang dã xuyên quốc gia, từ Lào về Việt Nam của nhóm PV - CTV Báo VietNamNet.
Mất nhiều tháng trời liên hệ manh mối, rốt cuộc nhóm PV - CTV Báo VietNamNet đã có một chuyến đi đáng nhớ tại Tà Khẹc (Lào) khi đột nhập thành công vào trang trại nuôi hổ lớn nhất Đông Nam Á.
Đường 13, con đường xương sống miền Nam Lào vắng và êm như lụa. Tính cả đèo dốc hiểm trở, 210km từ Cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) đến Tà Khẹc chỉ mất 2 giờ xe. Trong tư thế của những người đi mua hổ về nấu cao, nhóm PV - CTV báo VietNamNet rốt cuộc cũng tìm ra "hang ổ" lớn nhất của hổ: Trại Muang Thong.
Nằm cách thành phố Tà Khẹc khoảng 30km, ngay trên đường 13, quả thật, nhìn bề ngoài, không ai nghĩ rằng sau cánh cổng nhỏ ti hí này là cả một thế giới mênh mông chim thú.
Muang Thong có thể là tên một địa danh. Nằm cách thành phố Tà Khẹc khoảng 30km, ngay trên đường 13, quả thật, nhìn bề ngoài, không ai nghĩ rằng sau cánh cổng nhỏ ti hí là cả một thế giới mênh mông chim thú.
Trại Muang Thong rộng 200ha, được bao bọc bởi lưới thép mắt cáo cao 5m nhập từ Thái Lan. Cứ 5m chiều dài quanh trại lại có 1 cột thép đế rọ bê tông. Và mỗi 100m lại có thêm 1 chòi canh mà nghe nói, người ngồi trong chòi canh đã được lệnh bắn bất kỳ ai xâm nhập trái phép.
Thật may, 2 trong số 5 ông chủ của trại là người Hà Tĩnh. Và chúng tôi được một người quen khá sành của giới buôn hổ giới thiệu với họ. Tất nhiên, vì thế cuộc "đột nhập" dễ dàng hơn bằng cổng chính.
Cổng mở, vẻ ngoài tồi tàn biến mất. Những chuồng thép rộng vài chục m2 nối tiếp nhau bất tận. Và trong số những anh em đi trong đoàn, cả những người dẫn đường sành sỏi, lần đầu tiên được chiêm ngưỡng một thế giới toàn hổ, rặt hổ. Hổ lớn vài tạ, hổ bé đang sơ sinh đến vài dăm chục kí lô, có tất!
Phía sau cánh cổng im lìm là cả một thế giới của hổ, gấu, sư tử, báo hơn 700 con.
Phan Anh D, 1 trong 2 chủ trại người Việt dẫn chúng tôi đi vòng quanh chuồng ngoài cùng, nơi nhốt hai con hổ lớn.
Anh ta nói: "Cặp này đang "chung" (thuật ngữ của dân nuôi hổ, ngụ ý đang trong quá trình phối giống). Cứ 5 - 7 phút 1 lần, hổ đực lại "chung". Chỉ có hai con này không bán, còn lại trong trại 720 con khác, gồm cả gấu, báo và cặp... sư tử châu Phi, các ông chọn con nào tôi giải quyết con đó!".
Anh bạn đi cùng buột miệng: "Hổ đâu ra mà lắm thế nhỉ?". D nói ngay: "Trong số 700 con này, khoảng 100 con đẻ tại trại. Còn lại từ Malaysia, Thái Lan, Myanma chuyển qua. Ngày nào cũng có xe chuyển hổ về đây. Cả sống cả chết".
D là một Việt kiều từ Thái Lan về đây làm ăn. Trại Muang Thong được D khai sinh cách đây 6 năm. Theo D, vốn ban đầu góp chung là 3 triệu USD, chủ yếu bỏ ra để học cách nuôi nhốt an toàn và làm thế nào để hổ sống khỏe.
"Ban đầu mới làm, hổ chết nhiều lắm. 1 năm đầu lỗ tơi bời. Nhưng sang năm thứ 2 thì lãi. Lãi lớn nhất là biết cách làm cho hổ sinh đẻ được trong môi trường này. Nghe nói ở Việt Nam cho hổ đẻ được ầm ĩ lắm, chứ ở đây năm nào cũng có vài chục hổ con ra đời", D kể.
Con hổ đực giống đang trong thời gian "chung".
Theo ước tính của D, thì trại này riêng tiền hổ giờ cũng vào khoảng 7 - 7,5 triệu USD.
Tính ra tiền Việt, mỗi ngày cả trại phải mua khoảng 30 triệu tiền thịt gà cho hổ ăn. Mỗi con hổ trưởng thành ăn khoảng 4-5 kg thịt gà/ngày. "Tiền đầu tư cho trại khoảng 40 triệu/ ngày. Rất lớn nhưng lãi cũng được!".
D cho hay: "Thị trường chủ yếu của trại là... Việt Nam và Trung Quốc. Mỗi năm, người Việt sang mua hổ, làm thịt nấu cao ngay trong trại không biết bao nhiêu mà kể. Có người sang đây cả chục lần. Họ sang đây năm bảy người, chung nhau mua 1 con, thuê bác sỹ đông y chuyên nấu cao bên kia sang nấu tại chỗ".
Giá một kg hổ trên 1 tạ, bán ngay tại trại hiện giờ là 4.700 Bath (tiền Thái Lan, tương đương khoảng 140 USD). Loại dưới 1 tạ mua nấu cao thì không đến, chỉ khoảng 4.300 bath/kg.
Hổ con được sinh ra trong trại nhiều không đếm hết, được nuôi trong các dãy chuồng chạy dài nối liền nhau.
Mỗi tháng, ít nhất có 10 - 12 con hổ trưởng thành được "hóa cao" tại sân sau của trại Muang Thong.
"Tại đây, có lẽ linh khí của hổ quá nhiều, nên trong bán kính gần 1km, không có con vật nào dám bén mảnh đến. Kể cả giống chó săn rất thiện chiến mà tụi tôi nuôi ở đây cũng không có con nào dám đến gần", một công nhân chuyên làm thịt hổ nói.
"Thế giá hổ đưa về Việt Nam thì thế nào?" - tôi hỏi D.
"Các ông mua nấu ở đây thì biết giá rồi đó. Còn mua về thì tụi tôi đưa hổ về tận địa chỉ mà các ông yêu cầu. Giá hổ móc hàm (làm sạch lòng và nội tạng) là 3,3 triệu/kg, giao tận nơi (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình). Nếu giao hàng ở Hà Nội, giá là 4 triệu".
"Như con 1 tạ 6 này thì bao nhiêu cân móc hàm?" - tôi chỉ vào con hổ lớn, đang nằm thiu thiu bên bể nước trong chuồng. D tiếp: "Con 1 tạ rưỡi thì khoảng 11 kg lòng và nội tạng. Con này đẻ 3 lần rồi, chắc cũng khoảng 12 - 13 kg lòng. Móc hàm khoảng gần tạ rưỡi. Mua con này được đấy. Hổ già, xương mới tốt. Hổ 3 - 4 năm thì xương không nặng, nhưng con này thì cũng được 15 - 16 cân xương tươi đấy!".
Những con gấu khổng lồ cũng có mặt trong trại Muang Thong.
Thấy tôi băn khoăn về khâu vận chuyển, D dứt khoát: "Chuyện chuyển như thế nào, chuyển sống hay chết là tôi lo, các ông không phải bận tâm. Cứ về đến nơi, ông trả tôi đủ tiền là ok. Tôi nhận của các ông 20% tiền cọc, nhưng nhận ở Việt Nam. Các ông cứ chọn đi, rồi về bên kia, tôi cho người đến lấy tiền cọc. Nhận cọc xong 3 ngày là các ông có hàng".
Khi chúng tôi ngỏ ý muốn được theo "áp tải" hàng về Việt Nam, D không gật cũng không lắc: "Tôi không muốn giấu, nhưng làm nghề gì ăn nghề đó. Tôi chuyển hàng nghìn con hổ về Việt Nam rồi, các ông cứ yên tâm đi".
Cuộc chiến chống cháy rừng trong mùa khô khắc nghiệt được dự báo sẽ vô cùng cam go. Không chỉ những người đang ngày đêm canh giữ rừng mà tất cả các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh đều hướng về rừng với tâm trạng lo âu, thấp thỏm. Và những tấm lòng của các tổ chức, cá nhân, các sở, ban, ngành trong tỉnh là nguồn động viên to lớn, tiếp thêm nghị lực cho lực lượng giữ rừng vượt qua khó khăn, giữ bình yên cho rừng.
Đồng cảm sâu sắc với những khó khăn, cực nhọc mà các lực lượng tham gia bảo vệ rừng đang đối mặt, thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh đã gởi gắm tấm lòng, sự đồng cảm và chia sẻ sâu sắc bằng những phần quà, những lời thăm hỏi, động viên quý báu.
Đồng cảm và sẻ chia
Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Tuấn Khanh tặng quà cho lực lượng canh giữ rừng tràm Vườn Quốc gia U Minh hạ. Ảnh: ĐỨC TOÀN
Trong vòng hơn một tháng qua, kể từ khi bước vào cao điểm mùa khô đến nay, có trên 15 đoàn của lãnh đạo tỉnh cùng các tổ chức, cá nhân và các sở, ban, ngành đến thăm, tặng quà và động viên các lực lượng tham gia bảo vệ rừng tại Vườn Quốc gia U Minh hạ, Công ty Lâm nghiệp U Minh hạ, cùng nhân dân sống trong các lâm phần.
Ngoài ra, các lực lượng tham gia bảo vệ rừng và người dân sống trong các lâm phần còn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của nhiều tấm lòng đồng cảm và sẻ chia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh như: Công ty TNHH Hào Hưng, Công ty TNHH Khánh Linh, Công ty TNHH Sông Tiền...
Các phần quà mà các tổ chức, cá nhân gởi tặng cho các lực lượng tham gia bảo vệ rừng là những nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống. Đó là 55.000 gói mì, 14.800 chai nước suối, 315 lít nước mắm, 100 kg đường cát, bột ngọt, dầu ăn... Có một phần quà đã làm cho các "chiến sĩ" bảo vệ rừng xúc động là 80 đòn bánh tét mà các lực lượng hậu phương tự tay gói gởi vào rừng, giúp các anh lót lòng mỗi đêm tuần tra, canh gác.
Động lực và niềm tin
Tuy mỗi suất quà có giá trị không lớn, nhưng giá trị tinh thần thì không có gì so sánh bởi nó thể hiện sự quan tâm không chỉ đối với lực lượng giữ rừng mà còn đối với sự sống còn của rừng.
Đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau và HĐND tỉnh đến thăm, tặng quà cho lực lượng PCCR. Ảnh: THANH QUANG
Ông Nguyễn Văn Đời, người dân sống trong Phân trường U Minh I, bộc bạch: "Những phần quà nhận được là nguồn động viên to lớn, giúp gia đình tôi tăng thêm niềm tin và quyết tâm bảo vệ tốt phần diện tích rừng mình quản lý".
Ông Dương Minh Long, Phó Quản đốc Phân trường U Minh I, chân tình: "Những tấm lòng của các tổ chức, cá nhân dành cho lực lượng bảo vệ rừng không chỉ là nguồn động viên tinh thần, sự ủng hộ về vật chất, mà đó còn là niềm tin, lời nhắc nhở đối với anh em tham gia bảo vệ rừng: phải luôn cố gắng hết sức mình, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ".
Theo dự báo tháng 4 là tháng cao điểm nhất của mùa khô năm nay, vì thế công tác phòng chống cháy rừng càng trở nên khó khăn, gian khổ. Ngoài tinh thần trách nhiệm và ý thức cao của các lực lượng tham gia PCCR và người dân sống trong lâm phần, cần có sự chung tay góp sức của các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh.
Hãy tiếp tục ủng hộ, chia sẻ về vật chất lẫn tinh thần để tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho các "chiến sĩ" bảo vệ rừng hoàn thành nhiệm vụ giữ lấy màu xanh của rừng tràm U Minh hạ trong mùa khô năm nay./.
Đám cháy lớn cạnh rừng già tại xã Khun Há, huyện Tam Đường, Lai Châu xảy ra đêm 3.3 (đến thời điểm này, đám cháy đã cơ bản được khống chế) - Ảnh: TTXVN
Việc sử dụng phương pháp thủ công để dập các đám cháy lớn chưa đem lại sự yên tâm vào thời điểm căng thẳng hiện nay, trong khi những giải pháp chữa cháy tiên tiến chưa được quan tâm đúng mức.
Mấy ngày qua, có những lúc có gần 200 điểm cháy trong khu vực rừng trên toàn quốc. Trong khi đó, việc chiến đấu với "giặc lửa" chủ yếu vẫn bằng phương pháp thủ công: phát rừng để tạo đường băng khoanh đám cháy, dùng cành cây dập lửa...
Hôm qua 9.3, ông Hà Công Tuấn - Cục trưởng Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn) đã trao đổi với phóng viên Thanh Niên xung quanh công tác phòng, chữa cháy rừng. Ông Tuấn nhận định:
- Năm nay tình hình khô hạn quá căng thẳng. Nhiều khu vực liên tục hứng chịu các đợt nắng nóng trái mùa kéo dài. Mực nước trên các sông suối đều ở mức rất thấp. Nguy cơ cháy rừng trên diện rộng, nhiều khu vực nằm trong danh sách báo động đỏ. Trong khi đó, nhiều người dân vẫn chưa có ý thức phòng cháy rừng, tình trạng đốt nương làm rẫy, đốt thực bì để lấy cỏ phục vụ chăn nuôi. "Mùa" cháy rừng năm nay dự báo sẽ kéo dài hơn mọi năm. Trong đó, cao điểm nhất là từ nay đến khoảng 20.4.
Chữa cháy rừng, 1 người chết
Chiều qua 9.3, ông Lê Trọng Quảng - Phó chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, chiều cùng ngày, các lực lượng chữa cháy đã cơ bản dập tắt các đám cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Theo ông Quảng, tại xã Ma Ly Pho (H.Phong Thổ), trong khi tham gia chữa cháy rừng, một người dân đã bị chết do đá lăn trúng người, rơi xuống vực.
* Thưa ông, dư luận rất lo ngại về khả năng dập các đám cháy lớn khi chúng ta vẫn đang sử dụng các biện pháp thủ công?
- Đúng là dùng biện pháp thủ công để chiến đấu với đám cháy là rất khó khăn. Nhưng cháy lớn với điều kiện rừng núi hiểm trở, chúng ta cũng không thể dùng bàn dập cơ giới được, động cơ sẽ bị vướng khi di chuyển trong rừng. Cho nên, dùng các phương pháp thủ công, kể cả dùng các cành cây để dập lửa cũng đem lại hiệu quả. Không phải chỉ có nước ta áp dụng mà nhiều nước trên thế giới cũng đang làm như vậy.
* Liệu chúng ta có trang bị thêm các thiết bị chữa cháy rừng hiện đại, nhất là sử dụng máy bay để dập tắt các đám cháy?
- Chúng tôi đang triển khai dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy giai đoạn 1. Bộ NN - PTNT đã đề nghị Chính phủ tiếp tục cho thực hiện giai đoạn 2 của chương trình này, kéo dài từ năm 2011 - 2015. Tôi tin Chính phủ sẽ đồng ý phê duyệt. Giai đoạn 2 của chương trình sẽ bao gồm tất cả các giải pháp, trong đó có những biện pháp cảnh báo, đào tạo nâng cao năng lực và xây dựng đội ngũ phòng cháy chữa cháy, có tính đến khả năng sử dụng thiết bị từ trên không. Trong giai đoạn 1, chúng ta đã mua 3 máy bay trực thăng, vừa thực hiện công tác cứu hộ cứu nạn vừa chữa cháy rừng. Về lâu dài, ở những khu vực trọng điểm cháy, chúng ta phải xây dựng các dự án quản lý cháy rừng bền vững giống như đã thực hiện ở khu vực U Minh Thượng, U Minh Hạ. Ngoài ra, phải tăng cường trang thiết bị, trước hết là thông tin và thiết bị chữa cháy.
Lực lượng chữa cháy chuẩn bị vào cuộc chiến với "giặc lửa" - Ảnh: TTXVN
Tôi đã đi tham quan một số nước có phương pháp chữa cháy trên không bằng máy bay. Úc có 30 phi đội bay như thế, Thái Lan có 20 máy bay trực thăng chữa cháy rừng. Họ có lực lượng mạnh như vậy nhưng vẫn khẳng định chữa cháy mặt đất là quan trọng, đề phòng là cơ bản. Là người quản lý, tôi mong muốn có được một lực lượng phòng cháy chữa cháy hùng hậu, mạnh mẽ, đảm bảo an toàn hơn trong chữa cháy. Tuy nhiên, việc có nên trang bị và sử dụng máy bay chữa cháy hay không trong những năm tới cần phải tính toán, cân nhắc kỹ. Nước ta còn nghèo, dân sống trong khu vực rừng nhiều, địa hình đồi núi phức tạp...
Theo tôi biết, mỗi phi đội bay chữa cháy tối thiểu phải có 3 máy bay chuyên dụng chữa cháy, giá mỗi chiếc lên tới 20 - 30 triệu USD, kèm theo hai máy bay trực thăng nữa, một chiếc trinh sát chỉ huy và một máy bay đổ quân xuống hiện trường. Muốn chữa được những vụ cháy như tại Hoàng Liên vừa qua thì phải có nhiều phi đội bay. Do vậy, các bạn cũng đều khuyên là điều kiện Việt Nam còn nghèo, dân sống xen trong rừng rất nhiều, nên đầu tư ngay trong một vài năm tới là khó. Phải xử lý ở mặt đất là chính, phòng là căn bản.
* Tại sao vệ tinh đã phát hiện sớm các điểm cháy nhưng chúng ta không thể dập tắt kịp thời, để đám cháy lan rộng?
- Đúng là qua ảnh vệ tinh chúng ta đều biết được các điểm cháy một cách kịp thời. Tuy nhiên, phát hiện đám cháy mà dập tắt ngọn lửa được ngay hay không thì lại là câu chuyện thực tiễn của chúng ta. Nếu ai đó đã đến hiện trường các đám cháy rừng sẽ chia sẻ hơn với anh em địa phương. Ví dụ ở Hoàng Liên (Lào Cai), khi phát hiện điểm cháy, từ Sapa chúng ta cơ động mất 5 tiếng đồng hồ mới tiếp cận được đám cháy. Ở Tà Sùa (Lai Châu) dù đã dùng xe chuyên dụng, đưa lực lượng đến nơi xe không thể chạy được nữa, mọi người đi bộ vào chữa cháy cũng phải mất 8 - 10 tiếng mới tới nơi. Cháy rừng tại vùng núi cao trong điều kiện thời tiết khô hanh, không giống như cháy ở đồng bằng và trong đô thị. Cháy nhà trong đô thị cũng phải mất 10 - 15 phút sau lực lượng cứu hỏa mới có mặt tại hiện trường. Không phải lúc nào chúng ta cũng chuẩn bị được đội quân đông đảo trực chiến ở các cánh rừng, mà chỉ có anh em trực thôi. Khi cháy xảy ra, 5 - 10 tiếng lực lượng chữa cháy mới có mặt, đám cháy lan rộng cũng là điều không khó để giải thích.
* Thưa ông, hiện chúng ta đang áp dụng chi trả cho người dân tham gia chữa cháy rừng với mức 25 ngàn đồng/người/ngày. Mức này liệu có khuyến khích được người dân?
- Hiện nay, chế độ thanh toán trong trường hợp huy động người dân tham gia chữa cháy rừng đã được quy định trong một số nghị định và thông tư, trong đó nếu theo Thông tư số 62 thì chỉ có 25 ngàn đồng/người/ngày. Tuy nhiên, hiện chúng tôi đang triển khai thực hiện thông tư mới, mức chi trả sẽ cao hơn.
Vừa qua, chúng ta huy động đồng bào chữa cháy tại Hoàng Liên nhưng đến nay bà con cũng chưa được nhận một xu nào cả. Trong các vụ cháy rừng vừa qua, có mặt tại hiện trường, tôi nhận thấy chỉ cần chính quyền huy động, bà con cũng sẵn sàng đi cứu rừng. Thậm chí, những ngày xảy ra cháy rừng Hoàng Liên ở Lào Cai, đồng bào đã tự nguyện đem tặng các lực lượng chữa cháy 6 - 7 ngàn cái bánh chưng, cả tạ giò và trong 2 tiếng đồng hồ đã huy động được trên 2.000 chiếc dao phát để bộ đội phát rừng tạo đường băng ngăn lửa cháy lan. Bà con mình không tính toán thiệt hơn đâu. Họ đều vì lợi ích chung. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể để bà con chịu thiệt, phải tính toán để chi trả đầy đủ cho người dân.
Theo Cục Kiểm lâm, Bộ NN-PTNT, đến chiều 9.3 cả nước vẫn còn 22 tỉnh đang trong tình trạng báo động đỏ về nguy cơ cháy rừng cực kỳ nguy hiểm (cấp 5), gồm: An Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cao Bằng, Cà Mau, Điện Biên, Đắk Lắk, Đồng Nai, Đắk Nông, Gia Lai, Hòa Bình, Kiên Giang, Kon Tum, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Bình, Sơn La, Tây Ninh và Yên Bái. 24 địa phương có các khu rừng báo động cấp 4 - cấp nguy hiểm: Bình Định, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nội, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Kon Tum, Long An, Lai Châu, Nghệ An, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Vĩnh Phúc và Yên Bái.
Sử dụng máy bay
Sự phát triển của ngành hàng không đã giúp con người có thêm một lựa chọn rất hữu ích trong hoạt động chữa cháy, đặc biệt là dập tắt cháy rừng. Việc chữa cháy được thực hiện bằng cả trực thăng lẫn máy bay phản lực. Máy bay sẽ hút nước vào các thùng chứa rồi bay lên cao và xả nước xuống đám cháy. Trong nhiều trường hợp, nước được thay thế bằng chất làm chậm cháy. Thủy phi cơ - chẳng hạn như các thế hệ máy bay Beriev của Nga - đặc biệt hữu ích trong việc chữa cháy. Những chiếc máy bay này chỉ cần một mặt hồ có độ rộng tương đối, một đoạn sông lớn không chảy quá xiết là có thể đáp xuống "uống" đầy nước rồi bay lên và xả ra. Ngoài nhiệm vụ xả nước dập tắt lửa, máy bay cũng có thể làm công tác cứu hộ, phát hiện điểm cháy trong các đợt cháy rừng. Máy bay có rất nhiều lợi thế khi chữa cháy, như tốc độ nhanh, có thể tiếp cận các điểm cháy trên núi cao, ở khu vực địa hình phức tạp.
Máy bay Beriev Be-200 có thể xả một lần 12 tấn nước xuống đám cháy - Ảnh: Irkut
Những trận cháy nghiêm trọng đôi khi thu hút sự tham gia của lực lượng máy bay đến từ hàng chục nước. Trong đợt cháy rừng kéo dài từ tháng 6 tới tháng 8 tại Hy Lạp, máy bay của Nga, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel cùng hàng loạt quốc gia châu Âu đã tham gia chữa cháy. Trong các trận cháy rừng và cây bụi kéo dài tại California (Mỹ) vào các năm 2007 và 2008, bang Victoria (Úc) năm 2009, máy bay cũng đóng một vai trò lớn trong việc giảm thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Ở các nước giàu như Mỹ, Úc, việc huy động một lực lượng máy bay lớn là điều có thể thực hiện bất cứ lúc nào. Trong các đợt cháy lớn ở những nước ít giàu hơn như Hy Lạp, sự hỗ trợ tình nguyện của quốc tế cũng có thể giúp huy động được một số lượng máy bay lớn để khống chế hỏa hoạn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng việc chữa cháy bằng máy bay là "sản phẩm độc quyền" của nước giàu. Các nước đang phát triển cũng có thể thực hiện được phương pháp này bằng lực lượng máy bay của mình hoặc thuê từ nước ngoài. Chẳng hạn như vào tháng 10.2006, Indonesia đã thuê 2 chiếc thủy phi cơ Beriev Be-200ES của Bộ Tình trạng khẩn cấp Nga trong vòng 45 ngày để chữa cháy. Mỗi chiếc máy bay có thể "uống" 12 tấn nước mỗi lần đáp xuống. Theo hãng tin Antara, giá thuê hai chiếc này trong một tháng rưỡi là 5,2 triệu USD. Đây là một khoản tiền rất lớn, nhưng để bảo vệ những cánh rừng vô giá, và cả sinh mạng con người, thì việc bỏ tiền ra thuê cũng đáng đồng tiền bát gạo.
Nga cũng như nhiều nước khác hiện có một lực lượng máy bay chữa cháy khá hùng hậu để làm nhiệm vụ trong nước, quốc tế cũng như cho thuê.
Một sự liên hệ, trong các đợt cháy rừng nghiêm trọng ở các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lai Châu... của Việt Nam mới đây, sẽ rất hữu ích nếu có sự tham gia của máy bay, các loại thủy phi cơ của Nga chẳng hạn. Thử hình dung: những chiếc thủy phi cơ Beriev Be-200 đáp xuống lòng hồ Hòa Bình hoặc Thác Bà, hút đầy nước và bay tới xả xuống các đám cháy.
- "Theo tôi, việc cho nước ngoài thuê rừng diễn ra ở những khu vực như rừng phòng hộ, đầu nguồn, nhậy cảm về an ninh quốc phòng có thể có nhiều nguyên nhân, trong đó chắc chắn có nguyên nhân do năng lực thẩm định dự án của cấp tỉnh chưa tốt. Quốc hội có thể yêu cầu địa phương trả lời trực tiếp và Chính phủ xử lý vấn đề này" .
Ý kiến của bà Phạm Chi Lan, nguyên Tổng thư ký và Phó chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ xung quanh dư luận về việc một số tỉnh cho thuê đất rừng phòng hộ.
Gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm tới thông tin, một số tỉnh đồng ý để nhà đầu tư nước ngoài thuê rừng trong đó có rừng phòng hộ, bà có quan tâm tới thông tin này không? Nếu thực sự có chuyện như vậy, đứng ở góc độ một nhà kinh tế, bà có thể lý giải nguyên nhân?
Tôi rất quan tâm tới vấn đề này, cũng như vấn đề cho phép đầu tư nước ngoài ở các vùng ven biển, các dự án khai thác tài nguyên, kể cả tài nguyên đất đai, diễn ra khá nhiều trong vài năm gần đây. Về góc độ kinh tế, rất cần xem xét cẩn trọng các dự án này để đảm bảo lợi ích lâu dài của đất nước.
Chúng ta đang quan tâm sâu sắc tới phát triển bền vững, tới nâng cao hiệu quả và chất lượng của tăng trưởng kinh tế, tới tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chấm dứt kiểu phát triển dựa chủ yếu vào vốn, vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, vì vậy thu hút đầu tư nước ngoài cũng phải tuân thủ các yêu cầu này.
Chúng ta cũng không còn ở giai đoạn khát vốn đến mức sẵn sàng chấp nhận mọi dự án đầu tư nước ngoài nữa, mà phải biết chọn lựa, biết nhìn xa hơn, tổng thể hơn khi quyết định.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.
Riêng về các dự án trồng rừng, những vấn đề đang xảy ra theo tôi có thể có các nguyên nhân như sau:
Thứ nhất, ở nước ta, đầu tư nước ngoài vào trồng rừng nói riêng, vào nông nghiệp nói chung bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn thấp. Vì vậy, những dự án đầu tư trồng rừng thường có sức hấp dẫn lớn với các địa phương. Những cam kết bao giờ cũng rất ngọt ngào của nhà đầu tư nước ngoài có thể làm mờ đi, che khuất đi những lợi ích hoặc bất lợi lâu dài và rộng hơn cho phía chủ nhà, mà lẽ ra phía chủ nhà phải quan tâm, phải tỉnh táo để cân nhắc kỹ lưỡng.
Thứ hai, có thể có sự chưa gắn chặt hoặc chưa ăn khớp giữa chiến lược, quy hoạch phát triển chung của quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương nào đó.
Chiến lược, quy hoạch phát triển chung của quốc gia thì thường trải rộng và áp dụng cho một thời gian dài, lại liên quan đến nhiều ngành, nhiều vùng, nhiều cơ quan, trong khi sự phối hợp thực hiện và giám sát ở nước ta lại yếu.
Chiến lược của địa phương thường được xây dựng trong tỉnh, dựa vào các ban ngành của tỉnh, khi đã thành nghị quyết của Tỉnh ủy thì thường cứ thế mà thực hiện.
Trong một số trường hợp quyết định của tỉnh không phù hợp với quy hoạch chung, chúng ta lại nể nang, bỏ qua (như với một số dự án nhà máy thép chẳng hạn), do vậy không tạo nên được sức ép đòi hỏi các địa phương phải tuân thủ chiến lược, quy hoạch phát triển chung của quốc gia hoặc xem xét lợi ích của các đia phương liên quan.
Cuối cùng và theo tôi quan trọng nhất là năng lực thẩm định dự án của cấp tỉnh còn chưa tốt, do "quan trí" ở một số nơi chưa cao, trong khi các cơ quan trung ương lại chưa làm tốt vai trò hỗ trợ, phối hợp, giám sát các địa phương trong lĩnh vực này.
Hầu hết quyết định thường do lãnh đạo đưa ra, thiếu sự phản biện hoặc tham vấn giới chuyên môn hoặc các đối tượng liên quan một cách nghiêm túc.
Chưa kể, tư duy nhiệm kỳ và cách đánh giá của chúng ta hầu như không có tính hồi tố dễ dẫn đến lãnh đạo nhiệm kỳ này đưa ra quyết định, nhiệm kỳ sau mới thấy tác hại thì không còn ai đứng ra chịu trách nhiệm nữa.
Cánh rừng cắt cho dự án cho nước ngoài thuê tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Trước kia, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng định đầu tư trồng rừng ở Việt Nam nhưng không thực hiện được vì lý do an ninh quốc phòng. Trường hợp các dự án nói trên thì sao thưa bà? Tướng Đồng Sỹ Nguyên thì bày tỏ quan ngại "nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu"...
Tôi còn nhớ, cách đây 15-20 năm đã có những nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc muốn trồng rừng ở mìền Trung lấy nguồn nguyên liệu làm gỗ ván ép, hoặc trồng thông ở Quảng Ninh để lấy nhựa, nhưng tất cả đều không được phê duyệt. Lúc đó chúng ta đã cân nhắc nhiều đến yếu tố quốc phòng, an ninh, trong khi chưa định hình thật rõ những vùng nào là nhạy cảm, không cho phép đầu tư nước ngoài được vào.
Khoản 1, điều 30 của Luật Đầu tư hiện hành quy định "Cấm đầu tư các dự án gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia và lợi ích cộng đồng". Như vậy, nếu các dự án cho thuê rừng đang đề cập mà không phương hại tới quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc lợi ích cộng đồng thì có thể được làm.
Song những dự án có thể phương hại tới quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc lợi ích cộng đồng thì nhất thiết phải xem xét lại, nếu cần thì thu hồi quyết định cho đầu tư, chứ không thể bỏ qua sự vi phạm điều khoản quan trọng này. Trên thực tế, nhiều nước vẫn thuê rừng của nhau. Còn Trung Quốc đã thực hiện chính sách thuê đất từ thời xưa rồi. Liệu có phải dư luận đang quá nhạy cảm?
Thuê đất, thuê rừng theo đúng luật của các nước sở tại, đảm bảo lợi ích của các bên thì đâu có ai phản đối. Trung Quốc đúng là đã có chính sách thuê đất từ lâu. Tuy nhiên theo một số nghiên cứu và báo chí của nước ngoài, việc Trung Quốc thuê đất ở một số nước khác đang gây nên những lo ngại và phản ứng từ cộng đồng dân cư các nước đó. Nước ta đất chật người đông, trình độ, năng lực và kinh nghiệm quản lý lại còn hạn chế, nên những bức xúc của công luận về vấn đề này là chính đáng và hoàn toàn có thể hiểu được.
Có cơ sở pháp lý để rút giấy phép đầu tư
Đặt giả thiết các dự án đầu tư nói trên có sai phạm, liệu có cơ sở pháp lý nào để rút giấy phép đầu tư không? Theo bà, việc rút giấy phép có ảnh hưởng thế nào tới tính hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài của các dự án trồng rừng vì như bà đã nói, đầu tư vào trồng rừng ở nước ta còn thấp?
Trước hết theo tôi cần rà soát lại toàn bộ các dự án đó xem có phù hợp với các quy định của Luật Đầu tư hiện hành và với quy hoạch quốc gia không. Nếu dự án nào không phù hợp thì cương quyết rút phép lại. Điều đó hoàn toàn có thể làm được.
Khoản 4, điều 72 của Luật Đầu tư về Thay đổi nội dung, hoãn, đình chỉ, hủy bỏ dự án đầu tư nêu rõ: "Cơ quan có thẩm quyền quyết định hoãn, đình chỉ hoặc hủy bỏ dự án đầu tư phải xác định rõ lý do và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình".
Sau đó, phải rà lại quy hoạch quốc gia cũng như quy hoạch của các địa phương, xác định rõ vùng nào không cho phép đầu tư trồng rừng. Tôi tin vùng được phép làm sẽ rộng hơn nhiều so với vùng cấm.
Với những nhà đầu tư (không chỉ là nhà đầu tư nước ngoài) quan tâm tới việc trồng rừng ở các khu vực quy hoạch không cấm, cần tạo điều kiện tối đa bằng những ưu đãi về thuế, chính sách giá thuê đất... Phải có chính sách minh bạch, công khai và đối xử công bằng với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhà đầu tư trong nước.
Câu hỏi cuối cùng, bà chờ đợi Quốc hội thể hiện vai trò của mình như thế nào, khi những dự án này thực sự đang khiến dư luận băn khoăn và lo lắng?
Trong một bài phỏng vấn mới đây với ông Đặng Hùng Võ, đã đề cập tới vấn đề có thể có nơi chia nhỏ dự án và "biến" một số rừng phòng hộ đã lỡ cho nước ngoài thuê thành diện tích rừng sản xuất kinh doanh để "lách" trình Chính phủ, hoặc "chạy" để biến những khu vực ngoài quy hoạch thành trong quy hoạch cho phép, nên có thể Quốc hội chưa thể thực hiện được vai trò giám sát trực tiếp.
Theo tôi, dù có ai đó cố tình lách luật, Quốc hội vẫn cần và có thể tìm hiểu, phát hiện và lên tiếng. Quốc hội hoàn toàn có thể yêu cầu các địa phương và các cơ quan trung ương liên quan giải trình, trả lời những băn khoăn, thắc mắc của dư luận trực tiếp hoặc thông qua văn bản. Quan trọng hơn, Quốc hội cần đòi hỏi Chính phủ có biện pháp xử lý nghiêm những vi phạm, kể cả rút giấy phép nếu cần, và giám sát việc thực hiện điều đó.
Chung sức, chung lòng giữ cho rừng tràm U Minh mãi mãi xanh tươi...
LTS: Những năm gần đây, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của tỉnh Cà Mau đạt nhiều thành tích xuất sắc, không để xảy ra những vụ cháy lớn nào. Hiện nay đã bước vào thời kỳ cao điểm của nắng nóng mùa khô 2009-2010, là thời điểm quyết liệt nhất của công tác PCCCR. Nhằm thông tin đến bạn đọc sự chuẩn bị của tỉnh để ngăn ngừa và đối phó với "giặc" lửa, Báo ảnh Đất Mũi có phỏng vấn ông Lê Văn Hải - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, đơn vị chủ công trong công tác PCCCR.
Ông Lê Văn Hải (người chỉ tay) tại buổi diễn tập phòng chống cháy rừng ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ. ảnh: Bình Đẳng
Thưa ông, công tác PCCCR mùa khô 2009-2010 đã được chuẩn bị sẵn sàng như thế nào để giữ bình yên cho những cánh rừng tràm và đối phó khi có tình huống xấu xảy ra?
- Ông Lê Văn Hải: Khu vực rừng tràm Cà Mau hiện có tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp là 40.749ha, trong đó diện tích có rừng là 36.428ha, với 9 đơn vị trực tiếp quản lý, gồm: Cty Lâm nghiệp U Minh Hạ, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Phân trại K3 thuộc Trại giam Cái Tàu, Trung tâm Sản xuất giống hệ sinh thái ngọt U Minh, Trung tâm ứng dụng rừng ngập Minh Hải, 4 xã: Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh An (U Minh) và xã Khánh Bình Tây Bắc (Trần Văn Thời). Ngoài ra còn có trên 700ha đất rừng dễ cháy ở cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối.
Diễn tập phòng chống cháy rừng
Ngay từ đầu mùa khô năm nay đã nhận định là sẽ có những diễn biến phức tạp, không có mưa trái mùa như các năm trước, diện tích rừng tràm bị khô sớm, do hiện tượng Elnino nắng nóng sẽ kéo dài. Hiện nay, toàn bộ diện tích khu vực rừng tràm đã bị khô cạn nước, báo động cấp cháy rừng đã bước vào cấp IV, cấpV (nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm), kể cả rừng trên các đảo.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo về công tác PCCCR của Chính phủ, Bộ NN&PTNT và UBND tỉnh Cà Mau, quyết tâm của Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR của tỉnh là hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng; nếu có cháy xảy ra thì lực lượng và phương tiện tại chỗ dập tắt ngay, không để lây lan trên diện rộng, bảo đảm an toàn cao cho các khu rừng trọng điểm của Vườn Quốc gia U Minh Hạ, rừng trên đất than bùn.
Tuần tra, luồn rừng
Theo đó, đến thời điểm này, công tác PCCCR đã được sẵn sàng. Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR của tỉnh, huyện được kiện toàn, củng cố. Các sơ,ỷ ngành có liên quan như Sở NN&PTNT, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh cũng đã có kế hoạch triển khai chỉ đạo cho các đơn vị, lực lượng thực hiện công tác PCCCR mùa khô năm 2009-2010. Có 12 phương án PCCCR được xây dựng và trình duyệt, gồm 1 phương án PCCCR cấp tỉnh, 2 phương án cấp huyện, 4 phương án cấp xã và 5 phương án PCCCR của chủ rừng.
Các đơn vị đã chủ động đắp 119 đập lớn, nhỏ và mương rãnh thoát nước, dọn 63km kênh mương lưu thông; hệ thống đê bao, cống bộng đều đã được khóa kín vào cuối tháng 10-2009 để phục vụ cho công tác PCCCR; đã ban gạt 60km đường đất cho phương tiện xe ôtô và xe chữa cháy lưu thông. Tổng số máy bơm hiện có 61 máy, trong đó 43 máy có công suất lớn; 49 chòi canh lửa cố định, 54 chòi tạm thời và đang xây dựng mới 12 chòi cố định. Lực lượng hiện trực tại chỗ phục vụ công tác PCCCR là 550 người, lực lượng tại chỗ của các đơn vị chủ rừng có thể huy động là 2.044 người. Hiện nay các đơn vị quản lý rừng, Kiểm lâm đã bố trí lực lượng, phương tiện máy bơm ở các chốt, trạm trong lâm phần để tuần tra luồn rừng, trực chòi quan sát lửa rừng... thực hiện theo phương châm 4 "tại chỗ" gồm: chỉ huy, lực lượng, hậu cần và phương tiện tại chỗ.
Chi cục Kiểm lâm đã điều động 3 tổ máy bơm cùng lực lượng của các Hạt Kiểm lâm U Minh, Trần Văn Thời Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số I đến ứng trực tại các vị trí cao điểm cháy của Vườn Quốc gia U Minh Hạ và các chủ rừng khác. Tăng cường kiểm tra thường xuyên, đôn đốc các chủ rừng thực hiện các biện pháp PCCCR mùa khô 2009-2010 tốt hơn.
Kiểm tra độ ẩm của rừng
Nỗ lực của ngành chức năng thì như vậy, còn ý thức cùng tham gia phòng chống cháy rừng của người dân sống trên lâm phần thì ra sao? ông có điều gì nhắn nhủ với bà con?
- Ông Lê Văn Hải: Thời gian qua, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đã được nhiều ngành và địa phương quan tâm, nên ý thức chấp hành các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR của người dân sống trên lâm phần rừng tràm ngày càng tốt hơn. Các năm gần đây, số vụ cháy rừng và diện tích thiệt hại do cháy đều giảm. Đây cũng là phần đóng góp công sức rất lớn của nhân dân, đặc biệt là cư dân trên địa bàn rừng tràm. Tuy nhiên, hiện nay trong số trên 6.000 hộ dân khu vực rừng tràm, đời sống một bộ phận dân cư còn nhiều khó khăn. Hoạt động tìm kế sinh nhai như khai thác mật ong rừng, săn bắt cá, động vật rừng, hầm than, đốt đất sản xuất... vẫn còn có thể xảy xa, nếu không được kiểm soát tốt của lực lượng bảo vệ rừng thì cũng rất dễ xảy ra cháy rừng.
Để cho rừng tràm U Minh mãi mãi xanh tươi, tôi kêu gọi mọi người hãy chung sức, chung lòng cùng lực lượng Kiểm lâm bảo vệ rừng. Đối với bà con cư dân sống trong và ven rừng phải nâng cao ý thức chấp hành các quy định, đảm bảo an toàn trong công tác PCCCR mùa khô 2009-2010.
TT - Những thông tin mà phóng viên Tuổi Trẻ gửi về từ mọi nơi cho hay tình hình khô hạn ở VN đã đến mức báo động: sông Hồng đạt mức cạn kỷ lục mới, miền Bắc chịu ảnh hưởng nặng bởi khô hạn và đặc biệt trong cả nước, nguy cơ cháy rừng đang ở mức báo động đỏ.
Gần 2ha rừng thông 16 năm tuổi tại tiểu khu 392, trên địa bàn xã Chư Hrông (Gia Lai) cháy rụi hôm 13-2 - Ảnh: B.D.
Ba ngày trước chỉ có 8 tỉnh, thành được cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp IV - cấp nguy hiểm và 6 tỉnh ở cấp V - cực kỳ nguy hiểm thì đến hôm qua (23-2), con số này tăng lên 12 và 7... Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông HÀ CÔNG TUẤN, cục trưởng Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), cho biết:
- Nguy cơ cháy rừng đang lên cao, đặc biệt ở những địa phương mà nguy cơ đã ở cấp độ V - mức cực kỳ nguy hiểm, rất dễ cháy và nếu để xảy ra cháy thì tất cả các kiểu rừng đều dễ bị bắt lửa, tốc độ lây lan rất nhanh và khả năng chữa cháylà vô cùng khó.
Theo báo cáo của các cơ quan chuyên môn địa phương, đến ngày 23-2 cả nước có bảy địa phương có nguy cơ cháy rừng rất cao ở mức báo động cấp V. Đó là An Giang (Tri Tôn, Tịnh Biên), Cà Mau (toàn tỉnh), Gia Lai (Chư Păh, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Mang Yang), Kiên Giang (Phú Quốc), Kon Tum (Đắk Hà, Ngọc Hồi, Đắk Tô, Sa Thầy, TX Kon Tum), Lâm Đồng (Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Cát Tiên, Bảo Lâm), Sơn La (Bắc Yên, Phù Yên).
Ngoài bảy địa phương trên còn có 12 tỉnh thành có rừng có nguy cơ cháy ở cấp IV là Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cao Bằng, Đắk Lắk, Đồng Nai, Đắk Nông, Gia Lai, Hòa Bình, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Nghệ An và Tây Ninh.
* Theo ông, lý do nào mà nhiều địa phương khắp Bắc - Trung - Nam đều nằm trong "bản đồ đỏ" có nguy cơ cháy rừng cao?
- Do ảnh hưởng của El Nino nên thời tiết năm nay hanh khô, nhiệt độ trung bình ở tất cả các vùng đều tăng thêm 2-3OC. Thêm nữa, năm 2009 mùa mưa kết thúc khá sớm và lượng mưa trung bình cũng thấp hơn nhiều năm. Đây là lý do chính khiến tất cả khu vực có rừng đều dễ xảy ra cháy. Ngay trong dịp Tết Canh Dần, cả nước đã để xảy ra tám điểm cháy rừng lớn nhỏ, trong đó có vụ cháy lớn trên 1.000ha rừng ở khu vực rừng Hoàng Liên của Lào Cai và Lai Châu.
* Thưa ông, vừa qua xảy ra cháy rừng Hoàng Liên là do đâu? Các địa phương khác đang có rừng mà nguy cơ cháy cao ở cấp độ V cần cảnh giác điều gì?
- Trên 70% các vụ cháy rừng ở VN từ trước đến nay đều do người dân gây ra trong quá trình phát nương làm rẫy. Nương rẫy nằm xen trong rừng nên khi phát nương, đốt rẫy, thậm chí trẻ chăn gia súc trong rừng đốt củi sưởi ấm cũng gây cháy rừng. Khi rừng đã cháy, lây lan nhanh thì khả năng cứu chữa là không thể, ngay như các nước tiên tiến, đầy đủ phương tiện hiện đại như Mỹ, Úc có xảy ra cháy rừng cũng không thể cứu chữa được. Biện pháp tốt nhất là chủ động phòng chống cháy rừng.
* Trước nguy cơ cháy rừng như hiện nay, Cục Kiểm lâm có khuyến cáo gì tới các địa phương, các chủ rừng?
- Năm nay, theo dự báo thời tiết hanh khô còn kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao nên Thủ tướng cũng như Cục Kiểm lâm đã có các chỉ thị, yêu cầu các địa phương có rừng được cảnh báo ở cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm cần có các biện pháp phòng cháy, chữa cháy hiệu quả. Tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy, đặc biệt là khu vực trong rừng và gần rừng. Trong thời kỳ cao điểm khô hanh cần quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở khu vực có nguy cơ cháy rừng cao. Các lực lượng kiểm lâm địa phương cần túc trực 24/24 giờ trong thời điểm này để tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý hiệu quả.
Miền Tây phập phồng lo cháy
Chiều 23-2, ông Lê Hoàng Hưởng - giám đốc vườn quốc gia U Minh Thượng (Kiên Giang) - cho biết mực nước trong rừng đang xuống rất thấp. Rừng U Minh Thượng đã dự báo cháy rừng từ cấp III lên cấp IV. Trong khi đó, ông Tạ Vũ Linh - phó giám đốc vườn quốc gia U Minh Hạ - cho biết hiện có trên 2.000ha rừng đang ở mức báo động cháy cấp IV. Khoảng một tuần nữa sẽ có khoảng 1.000ha nằm trong mức báo động cháy cấp V.
180 cán bộ phòng chống cháy rừng của đơn vị đã cắm chốt 24/24 giờ ở giữa rừng từ hai tháng nay và không cho bất kỳ ai vào rừng ngoài những người thực hiện công vụ.
Tại vườn quốc gia Phú Quốc, trên 31.000ha rừng bị khô hạn gay gắt. Dù hiện nay chưa phải là đỉnh điểm của hạn hán nhưng toàn bộ diện tích rừng vườn quốc gia Phú Quốc đã nằm trong dự báo cháy cấp V. Ông Phạm Quang Bình - giám đốc vườn quốc gia Phú Quốc - cho biết vườn quốc gia đã nâng dự báo cháy rừng lên cấp V từ trước Tết Canh Dần. Hiện tất cả cán bộ của vườn quốc gia Phú Quốc đã cắm chốt ăn ngủ giữa rừng để phòng cháy.
Theo Chi cục Kiểm lâm An Giang, toàn tỉnh có hơn 18.000ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trong vùng nguy cơ cao với mức báo động cháy rừng cấp V là cấp đặc biệt nguy hiểm. Trong đó các vùng trọng điểm cháy ở huyện Tịnh Biên là 2.700ha gồm rừng Trà Sư, núi Phú Cường, núi Đất, núi Nhọn, khu vực Latina và Tà Lọt thuộc núi Cấm... Còn tại huyện Tri Tôn với 4.000ha, tập trung ở khu vực núi Giài, núi Cô Tô và rừng tràm ở các xã Tân Tuyến, Tà Đãnh, Vĩnh Gia, Lương An Trà...
Dòng chảy sông Hồng đoạn dưới cầu Vĩnh Tuy chỉ còn rất hẹp phía bờ nam - Ảnh: T.Phùng
Sông Hồng cạn ở mức kỷ lục mới
Lúc 19g ngày 21-2, mực nước sông Hồng tại Hà Nội chỉ còn 0,1m. Đây là mực nước thấp nhất trong lịch sử sông Hồng kể từ khi có số liệu quan trắc từ năm 1902 đến nay.
Bà Nguyễn Lan Châu, phó giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương, cho biết do tình trạng hiếm mưa ở miền Bắc nên nước từ thượng nguồn các sông miền Bắc tiếp tục giảm. Tình trạng này đã khiến sông Hồng ngày càng cạn hơn, xuất hiện liên tiếp các chỉ số cạn lịch sử. Trong vài ngày tới, nếu các hồ thủy điện xả nước phục vụ nông nghiệp thì mực nước sông Hồng tại Hà Nội sẽ lên mức 1,3-1,5m. Theo bà Châu, sau thời gian xả nước này, do miền Bắc vẫn chưa vào mùa mưa nên mực nước sông Hồng lại giảm xuống và có thể xuất hiện các chỉ số mực nước thấp ở mức 0,2m. Tình trạng này sẽ kéo dài đến giữa tháng 3. Do nguồn nước thượng lưu đang ở mức thấp lịch sử trong khi nhu cầu sử dụng nước hằng năm đều tăng 15-16% nên dù được cải thiện, mực nước sông Hồng có tăng thì vẫn duy trì mức tăng ở các chỉ số thấp.
Vĩnh Phúc thiếu nước để cấy lúa
Tại Vĩnh Phúc, ông Đặng Duy Hiển - trưởng phòng quản lý tưới tiêu Cục Thủy lợi - cho biết Vĩnh Phúc là địa phương đang chịu ảnh hưởng nặng nhất miền Bắc bởi khô hạn khi có gần 7.000ha ruộng chưa có nước để cấy lúa xuân. Theo Sở NN&PTNT Vĩnh Phúc, kế hoạch vụ xuân 2010 toàn tỉnh sẽ gieo trồng 42.000ha với tổng lượng nước phục vụ tưới cần gần 220 triệu m3 nhưng khả năng cung cấp nước không đủ, có thể thiếu 40 triệu m3 (tương đương 10.000ha). Vĩnh Phúc phải thành lập ban chỉ đạo chống hạn để xây dựng và triển khai phương án chống hạn.
Giếng nhà đã cạn sau nhiều tháng không mưa, cha con anh Tuyl (Gia Lai) dắt díu nhau ra suối để lấy nước - Ảnh: B.D.
Tây nguyên khát nước
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm Gia Lai xác nhận đến chiều 22-2, tất cả cánh rừng thuộc 17 huyện thị và TP đều được nâng mức cảnh báo cháy rừng lên cấp V.
Tại địa bàn huyện Chư Sê, những cánh rừng khộp nằm dọc tuyến quốc lộ 14C xuyên Tây nguyên đang được đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm Gia Lai, chỉ mười ngày trong tết từ 12 đến 21-2 đã ghi nhận tới 61 điểm báo cháy nhỏ xảy ra rải rác ở các huyện.
Để bảo vệ rừng, trong những ngày qua hầu hết cán bộ và lực lượng quản lý bảo vệ rừng cùng các đơn vị hỗ trợ thuộc lực lượng công an phòng cháy chữa cháy và bộ đội đã được tăng cường trực chiến 24/24 giờ. Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cũng lập ba đội kiểm lâm cơ động chuẩn bị nhân lực và phương tiện sẵn sàng ứng cứu khi có đám cháy xảy ra.
Theo dự báo của Ðài Khí tượng thủy văn khu vực Tây nguyên, mùa khô năm nay khu vực Tây nguyên sẽ đối mặt với hạn hán lớn nhất so với nhiều năm trước, báo động cấp V về nguy cơ cháy rừng. Ðặc biệt khoảng tháng 3 và 4, cao điểm mùa khô Tây nguyên, có thể xảy ra đại hạn trên diện rộng.
(VNN) Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn.
Trách nhiệm phải lên tiếng
- Được biết ông đã có thư gửi các cấp lãnh đạo có thẩm quyền cảnh báo nguy cơ từ việc cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn. Vì sao ông không đồng tình với việc này?
Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng.
Đặc điểm nước ta nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, chiều ngang hẹp, chiều dài dài, độ dốc núi đổ ra biển rất gần, các cơn lũ quét nhanh ngang tiếng động, thiên tai xảy ra liên tục, môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt nước biển dâng mất thêm diện tích ruộng đồng bằng. Đây là một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.
Ngoài chuyện chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt tôi còn băn khoăn ở chỗ nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. Nhớ lại các thời kháng chiến, tất cả các tỉnh đều có căn cứ là các vùng rừng núi, kháng chiến chống Pháp ta có Việt Bắc, kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường sơn và vùng Tây Nam Bộ. Những đất rừng đầu nguồn này đều nằm trong đất căn cứ hoặc ở vùng biên giới. Ví dụ. Nghệ An đang cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp đây là 3 địa bàn phên dậu quốc gia. Lạng Sơn cũng vậy.
Đảng, Nhà nước ta trong thời đổi mới cần sử dụng đất cho các mục tiêu là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ quy mô, địa điểm, tính từng mét đất. Triệt để không bán, không cho thuê dài hạn cho nước ngoài kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, địa ốc, sân gôn, sòng bạc... trong khi dân ta còn thiếu đất, thiếu nhà, thiếu việc làm.
Tuy đã muộn, nhưng ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.
Nhiều ý kiến phản đối, chính quyền tỉnh vẫn ký
Tướng Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh Thu Hà
- Có ý kiến cho rằng kiến nghị của ông bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác, do đó phản ứng như vậy là có phần cực đoan?
Tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu đó. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở dưới tỉnh ủy và công an họ báo lên. Ngay khi nhận được tin báo tôi đã gọi về các địa phương để hỏi lãnh đạo tỉnh cũng công nhận với tôi là có chuyện đó.
Ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản nhưng chính quyền vẫn ký. Thậm chí, có nơi Chủ tịch tỉnh kí cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn.
Hồi anh Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng, anh Kiệt có giao cho tôi làm đặc phái viên hai việc: Một là làm sao chấm dứt được việc đốt rừng; Hai là tạm thời đình chỉ việc xuất khẩu gỗ. Anh Kiệt cho đến lúc cuối đời vẫn còn trăn trở với 2 phần việc này.
Trong một văn bản ủy quyền cho tôi, anh ghi rõ giao đồng chí Đồng Sỹ Nguyên có quyền xử lí tại trận không cần báo, gay gắt đến như thế trong việc giữ rừng giữ đất. Để cứu trợ đồng bào có thực phẩm, anh còn cho chở gạo từ phía Nam ra để người dân có sức trồng rừng.
7 năm được Đảng, Chính phủ giao phụ trách chương trình 327, tôi đã cùng với các bộ, các địa phương lặn lội khắp mọi nẻo rừng, ven biển, các đảo. Đã từng leo nhiều ngọn núi cao hàng 1000m, từ bước chân, qua ống nhòm đã thấy cảnh tàn phá rừng để làm nương rẫy, chặt phá gỗ quý để sử dụng và xuất khẩu.
Việc trồng rừng đầu nguồn là vấn đề sống còn, là sinh mệnh của người dân, không chỉ trồng rừng mà còn phải bảo vệ rừng.
Đã cho thuê hơn 300 ngàn ha rừng
- Đến nay ông đã nhận được phản hồi nào về kiến nghị của mình chưa?
Khi tôi gửi kiến nghị lên thì có nhận được điện thoại của Thủ tướng. Thủ tướng nói với tôi là đã nhận được thư và đang giao cho Bộ Nông nghiệp đi điều tra thực tế. Bộ Nông nghiệp cũng đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng điều tra xong và gửi lại bằng văn bản cho tôi.
- Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp ra sao, thưa ông?
Bộ Nông nghiệp đồng ý với tôi việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn là sự thật. Bộ đã trực tiếp kiểm tra tại 2 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ngoài ra tổng hợp từ báo cáo của 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
"Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng". Ảnh: Thu Hà
Đó là một tầm nhìn rất ngắn!
- Giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư. Ông nghĩ sao về lập luận này?
Nói như thế là không thuyết phục.
Ngay trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp cũng đã xác nhận một sự thật là một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê.
Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.
Việc lo cho dân phải là việc đặt lên hàng đầu, trước cả việc thu ngân sách. Cứ dựa vào những lập luận như tăng thu ngân sách để có những quyết định ví dụ như cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn là một tầm nhìn rất ngắn!
Sao không tự hỏi vì sao các DN nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí địa chiến lược mang tính cốt tử. Bản thân dân nước mình cũng đang thiếu việc làm.Và khi đã thuê được rồi thì liệu họ có sử dụng lao động là người Việt Nam hay là đưa người của họ sang?
Lấy ngay ví dụ việc cho nước ngoài thuê đất ở Đồ Sơn. Tôi đã trực tiếp đến kiểm tra, xung quanh khu vực đó, họ cho đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của tôi tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi tôi trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.
Việc một số địa phương nói rằng có những vị trí cho người nước ngoài thuê vì bao lâu nay vẫn để trống, nói như vậy là vô trách nhiệm, địa bàn anh quản lí mà để như thế tức là đã không làm tròn nhiệm vụ. Hồi tôi đi làm dự án 327, tôi rõ lắm, dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, sao có đất để không được.
Kiến nghị đình chỉ ngay những dự án chưa ký
"Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng". Ảnh: Thu Hà
- Vậy theo ông, chúng ta cần phải làm gì trước hiện trạng này?
Một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, những tỉnh chưa kỷ đình chỉ ngay. Thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn chương trình 5 triệu ha rừng để thực hiện.
Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường lập ra bộ phận chuyên trách. Trong vòng một năm, chính thức giao khoán đất, khoán rừng cho từng hộ. Trong bản, trong xã cấp sổ đỏ quyền sở hữu sử dụng đất rừng vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, tôi đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp bố trí tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng.
Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng.
TTO - Sáng ngày 25-2, ông Nguyễn Văn Thế - giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ - cho biết đã chính thức nâng cấp báo động cháy rừng lên cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm - tại khu vực đặc dụng Vồ Dơi và khu rừng đang phục hồi trên diện tích hơn 1.000ha.
Cán bộ quản lý, bảo vệ rừng đang kiểm tra mức độ báo cháy trong lõi rừng đặc dụng ở U Minh Hạ
Nguyên tắc "nội bất xuất, ngoại bất nhập" được triển khai đến từng trạm, chốt canh lửa để cán bộ làm công tác bảo vệ, quản lý rừng thực hiện nghiêm ngặt.
Đường vào Vườn quốc gia U Minh Hạ cũng được dựng biển thông báo tạm dừng đón khách tham quan; trái cây trong rừng chỉ có người được giao khoán mới được phép vào thu hoạch nhưng rất hạn chế.
Do phải túc trực 24/24 nên ngoài công việc canh lửa, tất cả cán bộ của các trạm, chốt phải tự trồng rau cải, bầu bí và giăng lưới, đặt lọp bắt cá cải thiện cuộc sống thiếu thốn rất nhiều giữa rừng.
Một cán bộ giữ rừng đang canh lửa ở khu đặc dụng Vồ Dơi
Dây choại trên thân tràm đã vàng khô nên sáng 25-2 trên 1.000ha rừng ở U Minh Hạ được nâng mức báo động cháy lên cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm
Ngay trong sáng 25-2, phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Dương Tiến Dũng đã chính thức thông báo bồi dưỡng thêm cho cán bộ canh lửa U Minh Hạ mỗi người 200.000 đồng. Hiện danh sách đang được cập nhật với khoảng 300 người được hưởng chế độ này.
Việt Nam nằm trong 11 quốc gia ảnh hưởng thay đổi khí hậu nặng nhất
TTO - Trong ngày khai mạc hội nghị thượng đỉnh về khí hậu tại Copenhaghen (Đan Mạch) hôm 7-12, các nhà khoa học đã đưa ra danh sách 11 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới từ tình trạng thay đổi khí hậu, trong đó có Việt Nam.
Nước dâng tới thắt lưng, một số người dùng thuyền nhỏ để di chuyển trong đợt lụt đầu tháng 11 ở huyện Diên Khánh, Khánh Hòa - Ảnh: Quang Phương
Theo công bố các chuyên gia tại Copenhaghen, Việt Nam là một trong 11 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của hiện tượng nóng lên toàn cầu và những hệ quả của nó. Điều này được thể hiện rõ khi thời tiết bất thường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nước ta những năm gần đây như: lũ lụt ở các tỉnh miền Trung và Tây nguyên, hạn hán ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng...
Dưới đây là 11 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất bởi thay đổi khí hậu:
Tuvalu: Quốc đảo nhỏ bé vùng Thái Bình Dương này được tạo thành từ 9 đảo san hô vòng. Gần đây quốc gia này đã bị nước biển nhấn chìm một mét đất xung quanh chu vi của đảo lớn nhất và có nguy cơ bị mất thêm đất do nước biển dâng cao, đe dọa đến cuộc sống của 12.000 cư dân - Ảnh: Reuters
Maldives: Quốc đảo vùng Ấn Độ Dương cũng đang chịu mối đe dọa của mực nước biển dâng cao. Nội các Maldives mới đây có cuộc họp đặc biệt dưới đáy biển nhằm nâng cao nhận thức về mối đe dọa do biến đổi khí hậu. Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, với mức độ nước biển dâng hiện nay thì đến năm 2100, toàn bộ Maldives sẽ bị nhấn chìm - Ảnh: Reuters
Kiribati: Tại nhiều khu vực của quốc đảo Thái Bình Dương này, người dân địa phương đã phải chuyển nơi sinh sống do đất đai bị xói mòn. Mùa màng và nguồn nước ngọt tại Kiribati cũng đang bị nước biển đe dọa - Ảnh: Reuters
Tanzania: Bằng chứng về tác động của biến đổi khí hậu một cách rõ nhất tại quốc gia châu phi này là việc khoảng 80% băng vĩnh cửu trên đỉnh núi Kilimanjaro đã bị tan chảy trong vòng 50 năm qua - Ảnh: PA
Barbados: Cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới như Maldives, Sri Lanka, Kenya, Tanzania và quần đảo Seychelles, quốc đảo vùng Carribe Barbados cũng đang đối mặt với hiện tượng các bãi san hô lớn bị tàn phá do biến đổi khí hậu - Ảnh: Reuters
Bangladesh: Theo tính toán của các nhà khoa học, tới năm 2050 sẽ có khoảng 20 triệu người ở Bangladesh phải di chuyển chỗ ở do biến đổi khí hậu. Mỗi mét nước biển dâng cao sẽ nhấn chìm khoảng 30% lãnh thổ quốc gia Nam Á này và khiến khoảng 40 triệu người mất mùa màng và gia súc - Ảnh: EPA
Nepal: Hiệu ứng của biến đổi khí hậu tại Nepal là việc các khối băng vĩnh cửu trên dãy Himalaya đang dần tan chảy và việc nước này đối mặt với hàng loạt thiên tai khắc nghiệt như lũ lụt, lở đất và hạn hán, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp - Ảnh: Getty Images
Bhutan: Quốc gia láng giềng của Nepal nằm bên dãy Himalaya cũng đối mặt với những mối đe dọa tương tự do biến đổi khí hậu - Ảnh: Bloomberg
Việt Nam: Biến đối khí hậu đang từng ngày gây tác động lên Việt Nam với việc số lượng những trận lũ lụt, hạn hán và bão mạnh hàng năm tăng nhanh. Mỗi năm thiên tai do biến đổi khí hậu khiến Việt Nam tổn thất hàng trăm nhân mạng và hàng chục triệu USD - Ảnh: Getty Images
Kenya: Quốc gia châu Phi này phải đối mặt với nạn hạn hán liên miên gây ra tình trạng thiếu hụt nước sinh hoạt nghiêm trọng tại thủ đô Nairobi. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt về điện, lương thực và gia súc chết hàng loạt ở nhiều nơi tại Kenya do khô hạn - Ảnh: Getty Images
Rwanda: Cùng nằm tại khu vực châu Phi với Kenya nên nước này đang đối mặt với các nguy cơ tương tự do biến đổi khí hậu gây ra. Giới chức nước này đang kêu gọi thế giới ứng xử có trách nhiệm hơn trong việc giảm khí thải carbon và chuyển dịch sang nền kinh tế thân thiện với môi trường.